Bước tới nội dung

Kinh/Kênh Champeaux (cũ)

Từ Gò Công Wiki - Bách khoa toàn thư về Gò Công
Phiên bản vào lúc 14:53, ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Admin (thảo luận | đóng góp) (Trang mới: “Địa danh được cấu tạo theo phương thức: Công trình xây dựng (Kinh/Kênh) + Tên người (Champeaux). Kinh/Kênh Champeaux (cũ) là tuyến kinh/kênh được đào đầu tiên vào năm 1870. == Tiểu sử của Champeaux như sau: == Champeaux là viên quan thực dân Pháp, giữ chức làm Chánh tham biện hạt tham biện Gò Công từ năm 1870 - năm 1871, Chánh tham biện hạt tham biện Mỹ Tho từ năm 1872 - năm 1876. Tron…”)
(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)

Địa danh được cấu tạo theo phương thức: Công trình xây dựng (Kinh/Kênh) + Tên người (Champeaux). Kinh/Kênh Champeaux (cũ) là tuyến kinh/kênh được đào đầu tiên vào năm 1870.

Tiểu sử của Champeaux như sau:

Champeaux là viên quan thực dân Pháp, giữ chức làm Chánh tham biện hạt tham biện Gò Công từ năm 1870 - năm 1871, Chánh tham biện hạt tham biện Mỹ Tho từ năm 1872 - năm 1876. Trong lúc giữ chức này ở Mỹ Tho, Champeaux là người chỉ huy đàn áp cuộc khởi nghĩa do Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo và là người chỉ đạo vụ án tử hình đối với vị Thủ khoa yêu nước. Năm 1876, ông ta đổi về Sài Gòn, làm việc tại Phủ Thống đốc Nam Kỳ, trở thành viên quan cao cấp của thực dân Pháp ở Nam kỳ. Năm 1883, Champeaux tham gia cuộc tấn công kinh đô Huế của thực dân Pháp.

Được biết, sau khi đánh chiếm Nam Kỳ và Bắc Kỳ, đầu năm 1883, thực dân Pháp bắt đầu tính đến việc tấn công kinh đô Huế nhằm thực hiện dã tâm xâm chiếm toàn bộ Việt Nam.

Theo đó, lợi dụng lúc triều đình rối ren vì vua Tự Đức mới qua đời (7/7/1883), thực dân Pháp đã quyết định đánh thẳng vào Huế, hòng buộc triều đình nhà Nguyễn phải đầu hàng.

Sáng 18/8/1883, hạm đội của Pháp tiến vào cửa biển Thuận An. Trên chiếc Soái hạm Le Bayard của Đô đốc Courbet, chỉ huy toàn bộ hạm đội Pháp, có sự hiện diện của viên quan cao cấp Champeaux. Đến 4 giờ chiều hôm đó, quân Pháp bắt đầu nổ súng và công phá các pháo đài của quân dân ta trong suốt 2 ngày liền. Ngày 20/8/1883, chúng đổ bộ lên bờ. Quân dân ta anh dũng chống trả. Đến chiều tối, toàn bộ cửa Thuận An lọt vào tay giặc.

Trước tình thế đó, vua Hiệp Hòa cử quan lại gặp đại diện bọn thực dân xin “cầu hòa”. Về việc này, nhà sử học Trần Trọng Kim viết trong quyển Việt Nam sử lược như sau:

“Triều đình thấy sự nguy cấp, liền sai quan ra xin hòa. Viên Toàn quyền Harmand bắt quan ta phải giải binh cả mọi nơi, rồi cùng với ông Champeaux lên Huế để nghị hòa. Triều đình sai quan Hiệp biện hưu trí là Trần Đình Túc làm Khâm sai toàn quyền, và Nguyễn Trọng Hợp làm phó, để cùng với quan Pháp hội nghị.

Ngày 25/8/1883, tờ hòa ước lập xong, có chữ ký của ông Harmand và ông Champeaux; đồng thời, ông Trần Đình Túc và ông Nguyễn Trọng Hợp cùng ký”.

Hòa ước Harmand (còn gọi là hòa ước Quý Mùi), gồm 27 điều khoản, công nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam, nước ta bị mất nền độc lập hoàn toàn. Sau khi hòa ước đã ký xong, được sự chỉ đạo của chính phủ Pháp, Champeaux ở lại Huế làm Khâm sứ đầu tiên tại Trung Kỳ, có quyền quyết định tất cả mọi việc, vua quan nhà Nguyễn chỉ là bù nhìn.

Rõ ràng, Champeaux là tên thực dân mà hành trạng của  nhân vật này gắn liền với sự xâm lược hung hăng và tàn bạo của thực dân Pháp đối với đất nước ta. Chính vì lẽ đó, kinh/kênh Champeaux ở Gò Công nhất thiết phải được đổi tên.

Kinh/Kênh chảy xuyên qua các xã Tăng Hòa, Tân Thành thuộc huyện Gò Công Đông; điểm đầu nối với kinh/kênh Champeaux, điểm cuối nối với cống Vàm Kênh, dài 4.68 km, bề ngang 20 m, sâu 2,5 m, diện tích phục vụ 300 ha, được nạo vét năm 2009.