Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Lê Văn Túc”

Từ Gò Công Wiki - Bách khoa toàn thư về Gò Công
Không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
 
Dòng 1: Dòng 1:
Lê Văn Túc tự Nghiêm Kỉnh<ref>Lê Nghiêm Kỉnh là cha ông Lê Lương Tri (1893-1963), một nhà thơ từng xướng họa với Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ và các thi hữu trong văn đàn Gò Công</ref> (1857-1938), biệt tài thư pháp và thi phú. Hiện nay ở Gò Công còn lưu giữ khá nhiều liễn đối do ông viết. Các tác phẩm chữ Hán ông để lại là Trung thu ngao ẩm, Ngọc hoàng điện quyên văn (2) Thủy ách ký, (ghi lại trận bão năm Giáp Thìn-1904), Hỏa tai ký (ghi chép sự kiện cháy chợ Vĩnh Hựu năm 1905)... Văn phong của ông ngắn gọn, súc tích. Ngoài ra ông còn dịch một số kinh sách khuyến thiện từ chữ Hán ra quốc ngữ.
Lê Văn Túc tự Nghiêm Kỉnh<ref>Lê Nghiêm Kỉnh là cha ông Lê Lương Tri (1893-1963), một nhà thơ từng xướng họa với Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ và các thi hữu trong văn đàn Gò Công</ref> (1857-1938), biệt tài thư pháp và thi phú. Hiện nay ở Gò Công còn lưu giữ khá nhiều liễn đối do ông viết. Các tác phẩm chữ Hán ông để lại là Trung thu ngao ẩm, Ngọc hoàng điện quyên văn<ref>Bài nầy giúp người Hoa tổ chức quyên tiền xây dựng điện Ngọc hoàng ở Đa Kao 1900</ref> Thủy ách ký, (ghi lại trận bão năm Giáp Thìn-1904), Hỏa tai ký (ghi chép sự kiện cháy chợ Vĩnh Hựu năm 1905)... Văn phong của ông ngắn gọn, súc tích. Ngoài ra ông còn dịch một số kinh sách khuyến thiện từ chữ Hán ra quốc ngữ.
[[Thể loại:Tiểu sử]]
[[Thể loại:Tiểu sử]]

Bản mới nhất lúc 19:41, ngày 24 tháng 10 năm 2025

Lê Văn Túc tự Nghiêm Kỉnh[1] (1857-1938), biệt tài thư pháp và thi phú. Hiện nay ở Gò Công còn lưu giữ khá nhiều liễn đối do ông viết. Các tác phẩm chữ Hán ông để lại là Trung thu ngao ẩm, Ngọc hoàng điện quyên văn[2] Thủy ách ký, (ghi lại trận bão năm Giáp Thìn-1904), Hỏa tai ký (ghi chép sự kiện cháy chợ Vĩnh Hựu năm 1905)... Văn phong của ông ngắn gọn, súc tích. Ngoài ra ông còn dịch một số kinh sách khuyến thiện từ chữ Hán ra quốc ngữ.

  1. Lê Nghiêm Kỉnh là cha ông Lê Lương Tri (1893-1963), một nhà thơ từng xướng họa với Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ và các thi hữu trong văn đàn Gò Công
  2. Bài nầy giúp người Hoa tổ chức quyên tiền xây dựng điện Ngọc hoàng ở Đa Kao 1900