Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Phạm Đăng Dinh”
Giao diện
n Đã nhập 1 phiên bản |
Không có tóm lược sửa đổi |
||
| Dòng 1: | Dòng 1: | ||
Phạm-Đăng-Dinh, nội tổ Phạm-Đăng-Hưng, sanh năm Bính-dần (1717), tử ngày 8 tháng Giêng năm Tân-Mùi (1776), hưởng thọ 59 tuổi. Sau lúc ông mãn phần, vua Tự- Đức sắc phong Hàn-Lâm-Viện Chưởng-viện học-sĩ tước Bình-Thanh-Bá (Đệ-Tam-Đẳng Nam-Triều). | Phạm-Đăng-Dinh, nội tổ Phạm-Đăng-Hưng, sanh năm Bính-dần (1717), tử ngày 8 tháng Giêng năm Tân-Mùi (1776), hưởng thọ 59 tuổi. Sau lúc ông mãn phần, vua Tự- Đức sắc phong Hàn-Lâm-Viện Chưởng-viện học-sĩ tước Bình-Thanh-Bá (Đệ-Tam-Đẳng Nam-Triều). | ||
Phạm Đăng Dinh từ Quảng Ngãi vào giồng Sơn Quy (Gò Công) lập nghiệp vào giữa thế kỷ XVIII. Nếu truy nguyên thì dòng họ này vốn ở Thanh Hóa, theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa giữa thế kỷ XVI, và sau đó đi dần vào phương Nam. | |||
[[Thể loại:Tiểu sử]] | [[Thể loại:Tiểu sử]] | ||
Bản mới nhất lúc 18:34, ngày 24 tháng 10 năm 2025
Phạm-Đăng-Dinh, nội tổ Phạm-Đăng-Hưng, sanh năm Bính-dần (1717), tử ngày 8 tháng Giêng năm Tân-Mùi (1776), hưởng thọ 59 tuổi. Sau lúc ông mãn phần, vua Tự- Đức sắc phong Hàn-Lâm-Viện Chưởng-viện học-sĩ tước Bình-Thanh-Bá (Đệ-Tam-Đẳng Nam-Triều).
Phạm Đăng Dinh từ Quảng Ngãi vào giồng Sơn Quy (Gò Công) lập nghiệp vào giữa thế kỷ XVIII. Nếu truy nguyên thì dòng họ này vốn ở Thanh Hóa, theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa giữa thế kỷ XVI, và sau đó đi dần vào phương Nam.