Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Gò Công”
Giao diện
Không có tóm lược sửa đổi |
Không có tóm lược sửa đổi |
||
| (không hiển thị 3 phiên bản ở giữa của cùng người dùng) | |||
| Dòng 1: | Dòng 1: | ||
Có nhiều tài liệu viết về địa danh Gò Công như: | Có nhiều tài liệu viết về địa danh Gò Công như: [[Gia Định Thành Thông Chí]] của Trịnh Hoài Đức,Gò Công xưa của Huỳnh Minh,Gò Công cảnh cũ người xưa của Việt Cúc,Tự vị tiếng nói miền Nam của Vương Hồng Sển,…Nhưng vẫn còn nhiều tranh luận về địa danh Gò Công. | ||
[[Tập tin:Logogc.png|nhỏ|Gò Công Logo]] | |||
[[Tập tin:Favicon.png|nhỏ|Con Công]] | |||
[[Tập tin:Gcoongorgg.jpg|nhỏ|Logo by Nguyen Pham]] | |||
- Quyển | - Quyển Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức viết “Gò Công là Khổng Tước Nguyên” . | ||
- Quyển [[Gò Công xưa]] của Huỳnh Minh đưa ra hai giả thuyết: “Thuyết thứ nhất, vào thời chúa Nguyễn Phúc Tần định cuộc di dân nam tiến thì người dân Việt Nam mới vào định cư vùng này. Lúc này Gò Công là nơi rừng rậm chưa có người ở. Đặc biệt tại xứ này có một cái gò cao và có nhiều giống chim Công nên được gọi là Gò Công từ đó. Trong sử có ghi chép một đoạn về danh từ các tỉnh như sau. Khi vua Minh Mạng ra lệnh cho các quan địa phương đổi tên Nôm các tỉnh thành chữ Nho cho tao nhã thì Gò Công có tên là Khổng Tước Nguyên (Khổng Tước: là con công, Nguyên: là gò), Đồng Nai đổi thành Lộc Dã, Bến Tre đổi thành Trúc Giang, Sóc Trăng đổi thành Nguyệt Giang,… | |||
Thuyết thứ hai, lần đầu tiên tại xứ này có một bà tên là Thị Công đến lập quán bán thức ăn cho dân khai thác đồn điền. Lần hồi, thấy Gò Công là nơi dễ sinh sống nên dân chúng thành lập làng mạc. Số người ở ngày càng đông do đó dân địa phương quen gọi là quán Bà Công đến sau trở thành một địa danh vắn tắt là Gò Công” .6 | Thuyết thứ hai, lần đầu tiên tại xứ này có một bà tên là Thị Công đến lập quán bán thức ăn cho dân khai thác đồn điền. Lần hồi, thấy Gò Công là nơi dễ sinh sống nên dân chúng thành lập làng mạc. Số người ở ngày càng đông do đó dân địa phương quen gọi là quán Bà Công đến sau trở thành một địa danh vắn tắt là Gò Công” .6 | ||
- Quyển | - Quyển [[Gò Công cảnh cũ người xưa]] của Việt Cúc: “Gò Công thuở xưa như một bán đảo hoang, bao bọc bởi rừng cây và sông to bể cả, ba phía. Trung tâm của tỉnh là một gò đất cao ráo, nằm kề bên ngọn rạch rẽ nhánh chia đôi ra làm hai khu vực: Nam và Bắc. Thuở chưa khai phá, vùng đất này rậm rạp nhiều gai chông. Loài chim công chiếm cứ làm tổ rất êm nên gọi là Khổng Tước Nguyên, tức là gò Chim Công” .7 | ||
- Quyển | - Quyển [[Tự vị tiếng nói miền Nam]] của Vương Hồng Sển cũng viết: có hai thuyết về Gò Công, người Khmer gọi là Srok kompong kakol. Quyển Lexique Francais Cambodgien A. Pannentier thì Pháp gọi chim công là paon, Khmer gọi là “kâ ngôk” chưa đúng là “kaoh”. Tự điển Khmer Pháp J.B.Bernard không có chữ “kaol”, lại có chữ “dòm kâko”: cây mun mà Gò Công có trước đây rất nhiều. Nhưng đồng thời, tác giả cũng ghi nhận Gò Công là “Khổng Tước Nguyên” .8 | ||
- Quyển | - Quyển [[Địa chí Tiền Giang]] lý giải về địa danh Gò Công như sau: “Gò Công tên chữ là Khổng tước nguyên, có nghĩa là gò chim công. Có người cho rằng, Gò Công là vùng đồng bằng thì làm gì có loại chim công - loài chim chỉ sống vùng rừng núi. Có thể Gò Công gốc là một địa danh ở Trao Trảo (Thủ Đức) đưa xuống (tương tự như trường hợp dân đánh cá đã đem địa danh Gò Công đặt cho một con sông gần mũi Cà Mau). Do vậy, giới thương hồ ngày xưa có thói quen phân biệt Gò Công - Trao Trảo (Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) với Gò Công - Rạch Lá ( Gò Công, tỉnh Tiền Giang)” . | ||
Qua các dữ liệu trên, chúng tôi nhận thấy đa số các tác giả đều nghiêng về thuyết: Gò Công là gò Chim Công mà dân gian đã nói tắt thành Gò Công, tên chữ Hán Nôm là Khổng Tước Nguyên. Theo cách giải thích này, địa danh được cấu tạo theo phương thức: Địa hình thiên nhiên (Gò) + Động vật (Chim công: là loài chim thuộc họ Trĩ, chi Công, tên chữ Hán Nôm là Khổng tước, chim công đực có màu sắc rất đẹp). | Qua các dữ liệu trên, chúng tôi nhận thấy đa số các tác giả đều nghiêng về thuyết: Gò Công là gò Chim Công mà dân gian đã nói tắt thành Gò Công, tên chữ Hán Nôm là Khổng Tước Nguyên. Theo cách giải thích này, địa danh được cấu tạo theo phương thức: Địa hình thiên nhiên (Gò) + Động vật (Chim công: là loài chim thuộc họ Trĩ, chi Công, tên chữ Hán Nôm là Khổng tước, chim công đực có màu sắc rất đẹp). | ||
| Dòng 24: | Dòng 28: | ||
[[Thể loại:Địa lý]] | [[Thể loại:Địa lý]] | ||
[[Thể loại:Gò Công]] | [[Thể loại:Gò Công]] | ||
[[Thể loại:Chuyện xưa, Tích cũ]] | |||