Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Lê Lương Tri”

Từ Gò Công Wiki - Bách khoa toàn thư về Gò Công
Trang mới: “'''Lê Lương Tri''' (1893 – 1963) là nhà Nho nổi tiếng ở vùng '''Gò Công''' (thuộc tỉnh Tiền Giang), được xem là “cụ Lương-Tri”. * Tên thật là '''Lê Văn Quới''', tên tự là '''Năng''', hiệu '''Lương-Tri'''. * Ông sinh tại làng Dương Phước, tổng Hòa Lạc Hạ (nay thuộc xã Phước Trung, Gò Công). * Trong văn đàn Gò Công xưa, ông được biết đến như một thi hữu, từng xướng họ…”
 
Không có tóm lược sửa đổi
 
(Một sửa đổi ở giữa của cùng người dùng)
Dòng 1: Dòng 1:
'''Lê Lương Tri''' (1893 1963) là nhà Nho nổi tiếng ở vùng '''Gò Công''' (thuộc tỉnh Tiền Giang), được xem “cụ Lương-Tri”.  
Cụ -Lương-Tri chính tên là Lê-Văn-Quới, tục gọi là Năng, hiệu Lương-tri. Người làng Dương-phước, Tổng Hòa- lạc-hạ (nay thuộc xã Phước-trung, quận Hòa-lạc, tỉnh Gò- công), sinh năm Quý-tỵ 1893, mất năm 1963. [[Tập tin:Image-5.jpg|nhỏ|Ông Lê Lương Tri. (Ảnh thờ tại nhà ông Lê Văn Triêu) ]]Theo quyển Lê-gia thế-phổ do chính tay cụ viết, được biết dòng dõi cụ như sau : « Ông thỉ tổ vào Nam chưa biết hồi năm nào, có lẽ từ năm 1744 đến năm 1750, lúc chúa Nguyễn chiêu mộ người vào khai-khẩn đất hoang ở miền Nam. Gốc người ở Quảng-Nam. Thỉ tổ ông tên húy là Chánh, tự Thọ, vào Nam với 5 người con. Từ thỉ-tổ đến cao tổ đời thứ nhứt và thứ nhì còn nghèo, ít học, qua đời thứ ba đã khá, có của tiền và có học, song học chữ Nho ».


* Tên thật '''Lê Văn Quới''', tên tự là '''Năng''', hiệu '''Lương-Tri'''.
Ông nội tên là Lê-Văn-Đồng, làm chức Hương-thân, thân phụ tên Lê-văn-Túc, tự Nghiêm-kỉnh, làm ông Bái, mẹ là bà Đặng-thị-Còn.
* Ông sinh tại làng Dương Phước, tổng Hòa Lạc Hạ (nay thuộc xã Phước Trung, Gò Công).
* Trong văn đàn Gò Công xưa, ông được biết đến như một thi hữu, từng xướng họa với các nhà văn nổi tiếng như Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ, và tham gia các hoạt động văn chương tại địa phương.
* Ông còn giữ vai trò trong hệ thống quan lại địa phương, được nhắc đến với danh xưng “Hội đồng Nguyễn Minh Chiếu, cụ Lê Lương Tri” trong các tài liệu về Gò Công xưa.  


Năm 19 tuổi, cụ lập gia đình với bà Nguyễn-thị-Ngọ, con gái của ông Nguyễn-văn-Khuê, làm Hương-thân ở làng Tân- phước, ấp Rạch-già, tỉnh Gò-công. Ở được 27 năm bà này mất, sanh cả thảy 12 lần nhưng chỉ còn được là 3 trai, 2 gái. Cụ lấy vợ kế là bà Nguyễn-thị-Sáu, ở xóm sau nhà, chung sống với nhau được 26 năm.
Vốn là con một bậc túc nho, cụ có căn bản vững chắc về Hán-học, nhưng chuyên sống về nghề nông vì thời thế phải ra làm thôn-trưởng mấy năm (người trong làng thường gọi là « Ông Thôn Năng ») rồi trở về làm ruộng và học hỏi, nghiên-cứu Đông-y trên 10 năm.
Cụ có tài làm thi thơ rất giỏi, quanh vùng đều biết tiếng nhưng có tánh khiêm tốn, ai ai cũng đều kính mến cụ.
Vào lúc 6 giờ sáng ngày 8-4-1963 cụ nằm trên giường bịnh đọc bài thơ « Vĩnh-biệt » cho người con trưởng nam là ông Lê-văn-Triều chép trước khi từ giã đời. Bài thơ ấy như vầy :
''« Cảm tạ ơn lòng bạn chí thân ; Thương nhau cho chát, viếng ân-cần. Biết nhau chẳng bởi trên lời nói,''
''Mà biết cho nhau chỗ nghĩa nhơn. Thể phách dẫu về nơi xóm quỷ, Linh-hồn mai cũng được quy thần. Sau này nếu hãy còn thương cảm,''
''Mượn trái tim xây họa có chăng ».''
Sau khi cụ mất, các bạn thi hữu của cụ có làm nhiều bài họa lại bài « Vĩnh-biệt » ấy, tất cả đều tỏ lòng thương xót. Toàn thể hội viên trong « Khổng-tử tế-tự hội » ở Gò-công có phúng điếu cụ bằng một tấm vãng màu trắng ghi mấy hàng chữ như sau :
==== GÒ-CÔNG KHỔNG-TỬ TẾ-TỰ HỘI ====
'''Lê-phủ, Lương-Tri đăng tiên'''
''Hỡi ôi !''
''Khổng môn thảo sắc hòa yên noãn, Thanh đạo thơ thanh đáy nguyệt hàn. Trách tạo vật vô đoan,''
''Lan đình cho hợp, hạnh-đàn lại phân. Ngậm ngùi đốt nén hương tâm !''
''Bắc-đẩu ! Sao ông rất oái oăm ? Tuổi người chưa tới với biên trăm, Để xe trời rước trang mênh biện, Đem nấm đất vùi đấng học thâm ! Ngòi bút cũ, lưu lai nét mực,''
''Tập thi xưa, phảng-phất hơi trầm ! Từ nay xướng họa như khi trước,''
''Biết có chăng ? Trong giấc mộng trầm.''
'''Toàn thể hội-viên đồng bái.'''
Cụ đã từ giã cõi trần, để lại bao nỗi nhớ nhung mến tiếc, nhứt là những bạn thơ ở xa hay tin đến phúng điếu và làm nhiều tấm vãng chia buồn và nói lên đức-tánh của cụ trong lúc còn sanh tiền, cụ đã góp công xây dựng nền văn-hóa
nước nhà qua những vần thơ toàn là đạo-đức nhơn-nghĩa, lễ, trí, tín, lưu cho hậu thế noi gương, mặc dầu cụ đã ra người thiên cổ, nhưng tên cụ vẫn còn sống mãi với sử xanh.
'''''Trích « Đồng-Nai Văn-Tập » số… bài của giáo sư Nguyễn-Văn-Y.'''''
[[Thể loại:Tiểu sử]]
[[Thể loại:Tiểu sử]]

Bản mới nhất lúc 04:24, ngày 25 tháng 10 năm 2025

Cụ Lê-Lương-Tri chính tên là Lê-Văn-Quới, tục gọi là Năng, hiệu Lương-tri. Người làng Dương-phước, Tổng Hòa- lạc-hạ (nay thuộc xã Phước-trung, quận Hòa-lạc, tỉnh Gò- công), sinh năm Quý-tỵ 1893, mất năm 1963.

Ông Lê Lương Tri. (Ảnh thờ tại nhà ông Lê Văn Triêu)

Theo quyển Lê-gia thế-phổ do chính tay cụ viết, được biết dòng dõi cụ như sau : « Ông thỉ tổ vào Nam chưa biết hồi năm nào, có lẽ từ năm 1744 đến năm 1750, lúc chúa Nguyễn chiêu mộ người vào khai-khẩn đất hoang ở miền Nam. Gốc người ở Quảng-Nam. Thỉ tổ ông tên húy là Chánh, tự là Thọ, vào Nam với 5 người con. Từ thỉ-tổ đến cao tổ đời thứ nhứt và thứ nhì còn nghèo, ít học, qua đời thứ ba đã khá, có của tiền và có học, song học chữ Nho ».

Ông nội tên là Lê-Văn-Đồng, làm chức Hương-thân, thân phụ tên Lê-văn-Túc, tự Nghiêm-kỉnh, làm ông Bái, mẹ là bà Đặng-thị-Còn.

Năm 19 tuổi, cụ lập gia đình với bà Nguyễn-thị-Ngọ, con gái của ông Nguyễn-văn-Khuê, làm Hương-thân ở làng Tân- phước, ấp Rạch-già, tỉnh Gò-công. Ở được 27 năm bà này mất, sanh cả thảy 12 lần nhưng chỉ còn được là 3 trai, 2 gái. Cụ lấy vợ kế là bà Nguyễn-thị-Sáu, ở xóm sau nhà, chung sống với nhau được 26 năm.

Vốn là con một bậc túc nho, cụ có căn bản vững chắc về Hán-học, nhưng chuyên sống về nghề nông vì thời thế phải ra làm thôn-trưởng mấy năm (người trong làng thường gọi là « Ông Thôn Năng ») rồi trở về làm ruộng và học hỏi, nghiên-cứu Đông-y trên 10 năm.

Cụ có tài làm thi thơ rất giỏi, quanh vùng đều biết tiếng nhưng có tánh khiêm tốn, ai ai cũng đều kính mến cụ.

Vào lúc 6 giờ sáng ngày 8-4-1963 cụ nằm trên giường bịnh đọc bài thơ « Vĩnh-biệt » cho người con trưởng nam là ông Lê-văn-Triều chép trước khi từ giã đời. Bài thơ ấy như vầy :

« Cảm tạ ơn lòng bạn chí thân ; Thương nhau cho chát, viếng ân-cần. Biết nhau chẳng bởi trên lời nói,

Mà biết cho nhau chỗ nghĩa nhơn. Thể phách dẫu về nơi xóm quỷ, Linh-hồn mai cũng được quy thần. Sau này nếu hãy còn thương cảm,

Mượn trái tim xây họa có chăng ».

Sau khi cụ mất, các bạn thi hữu của cụ có làm nhiều bài họa lại bài « Vĩnh-biệt » ấy, tất cả đều tỏ lòng thương xót. Toàn thể hội viên trong « Khổng-tử tế-tự hội » ở Gò-công có phúng điếu cụ bằng một tấm vãng màu trắng ghi mấy hàng chữ như sau :

GÒ-CÔNG KHỔNG-TỬ TẾ-TỰ HỘI

Lê-phủ, Lương-Tri đăng tiên

Hỡi ôi !

Khổng môn thảo sắc hòa yên noãn, Thanh đạo thơ thanh đáy nguyệt hàn. Trách tạo vật vô đoan,

Lan đình cho hợp, hạnh-đàn lại phân. Ngậm ngùi đốt nén hương tâm !

Bắc-đẩu ! Sao ông rất oái oăm ? Tuổi người chưa tới với biên trăm, Để xe trời rước trang mênh biện, Đem nấm đất vùi đấng học thâm ! Ngòi bút cũ, lưu lai nét mực,

Tập thi xưa, phảng-phất hơi trầm ! Từ nay xướng họa như khi trước,

Biết có chăng ? Trong giấc mộng trầm.

Toàn thể hội-viên đồng bái.

Cụ đã từ giã cõi trần, để lại bao nỗi nhớ nhung mến tiếc, nhứt là những bạn thơ ở xa hay tin đến phúng điếu và làm nhiều tấm vãng chia buồn và nói lên đức-tánh của cụ trong lúc còn sanh tiền, cụ đã góp công xây dựng nền văn-hóa

nước nhà qua những vần thơ toàn là đạo-đức nhơn-nghĩa, lễ, trí, tín, lưu cho hậu thế noi gương, mặc dầu cụ đã ra người thiên cổ, nhưng tên cụ vẫn còn sống mãi với sử xanh.

Trích « Đồng-Nai Văn-Tập » số… bài của giáo sư Nguyễn-Văn-Y.