Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Lê Lương Tri”
Giao diện
Không có tóm lược sửa đổi |
Không có tóm lược sửa đổi |
||
| Dòng 1: | Dòng 1: | ||
Cụ Lê-Lương-Tri chính tên là Lê-Văn-Quới, tục gọi là Năng, hiệu Lương-tri. Người làng Dương-phước, Tổng Hòa- lạc-hạ (nay thuộc xã Phước-trung, quận Hòa-lạc, tỉnh Gò- công), sinh năm Quý-tỵ 1893, mất năm 1963. [[Tập tin:Image-5.jpg|nhỏ|Ông Lê Lương Tri. (Ảnh thờ tại nhà ông Lê Văn Triêu) ]]Theo quyển Lê-gia thế-phổ do chính tay cụ viết, được biết dòng dõi cụ như sau : « Ông thỉ tổ vào Nam chưa biết hồi năm nào, có lẽ từ năm 1744 đến năm 1750, lúc chúa Nguyễn chiêu mộ người vào khai-khẩn đất hoang ở miền Nam. Gốc người ở Quảng-Nam. Thỉ tổ ông tên húy là Chánh, tự là Thọ, vào Nam với 5 người con. Từ thỉ-tổ đến cao tổ đời thứ nhứt và thứ nhì còn nghèo, ít học, qua đời thứ ba đã khá, có của tiền và có học, song học chữ Nho ». | |||
Ông nội tên là Lê-Văn-Đồng, làm chức Hương-thân, thân phụ tên Lê-văn-Túc, tự Nghiêm-kỉnh, làm ông Bái, mẹ là bà Đặng-thị-Còn. | |||
Năm 19 tuổi, cụ lập gia đình với bà Nguyễn-thị-Ngọ, con gái của ông Nguyễn-văn-Khuê, làm Hương-thân ở làng Tân- phước, ấp Rạch-già, tỉnh Gò-công. Ở được 27 năm bà này mất, sanh cả thảy 12 lần nhưng chỉ còn được là 3 trai, 2 gái. Cụ lấy vợ kế là bà Nguyễn-thị-Sáu, ở xóm sau nhà, chung sống với nhau được 26 năm. | |||
Vốn là con một bậc túc nho, cụ có căn bản vững chắc về Hán-học, nhưng chuyên sống về nghề nông vì thời thế phải ra làm thôn-trưởng mấy năm (người trong làng thường gọi là « Ông Thôn Năng ») rồi trở về làm ruộng và học hỏi, nghiên-cứu Đông-y trên 10 năm. | |||
Cụ có tài làm thi thơ rất giỏi, quanh vùng đều biết tiếng nhưng có tánh khiêm tốn, ai ai cũng đều kính mến cụ. | |||
Vào lúc 6 giờ sáng ngày 8-4-1963 cụ nằm trên giường bịnh đọc bài thơ « Vĩnh-biệt » cho người con trưởng nam là ông Lê-văn-Triều chép trước khi từ giã đời. Bài thơ ấy như vầy : | |||
''« Cảm tạ ơn lòng bạn chí thân ; Thương nhau cho chát, viếng ân-cần. Biết nhau chẳng bởi trên lời nói,'' | |||
''Mà biết cho nhau chỗ nghĩa nhơn. Thể phách dẫu về nơi xóm quỷ, Linh-hồn mai cũng được quy thần. Sau này nếu hãy còn thương cảm,'' | |||
''Mượn trái tim xây họa có chăng ».'' | |||
Sau khi cụ mất, các bạn thi hữu của cụ có làm nhiều bài họa lại bài « Vĩnh-biệt » ấy, tất cả đều tỏ lòng thương xót. Toàn thể hội viên trong « Khổng-tử tế-tự hội » ở Gò-công có phúng điếu cụ bằng một tấm vãng màu trắng ghi mấy hàng chữ như sau : | |||
==== GÒ-CÔNG KHỔNG-TỬ TẾ-TỰ HỘI ==== | |||
'''Lê-phủ, Lương-Tri đăng tiên''' | |||
''Hỡi ôi !'' | |||
''Khổng môn thảo sắc hòa yên noãn, Thanh đạo thơ thanh đáy nguyệt hàn. Trách tạo vật vô đoan,'' | |||
''Lan đình cho hợp, hạnh-đàn lại phân. Ngậm ngùi đốt nén hương tâm !'' | |||
''Bắc-đẩu ! Sao ông rất oái oăm ? Tuổi người chưa tới với biên trăm, Để xe trời rước trang mênh biện, Đem nấm đất vùi đấng học thâm ! Ngòi bút cũ, lưu lai nét mực,'' | |||
''Tập thi xưa, phảng-phất hơi trầm ! Từ nay xướng họa như khi trước,'' | |||
''Biết có chăng ? Trong giấc mộng trầm.'' | |||
'''Toàn thể hội-viên đồng bái.''' | |||
Cụ đã từ giã cõi trần, để lại bao nỗi nhớ nhung mến tiếc, nhứt là những bạn thơ ở xa hay tin đến phúng điếu và làm nhiều tấm vãng chia buồn và nói lên đức-tánh của cụ trong lúc còn sanh tiền, cụ đã góp công xây dựng nền văn-hóa | |||
nước nhà qua những vần thơ toàn là đạo-đức nhơn-nghĩa, lễ, trí, tín, lưu cho hậu thế noi gương, mặc dầu cụ đã ra người thiên cổ, nhưng tên cụ vẫn còn sống mãi với sử xanh. | |||
'''''Trích « Đồng-Nai Văn-Tập » số… bài của giáo sư Nguyễn-Văn-Y.''''' | |||
[[Thể loại:Tiểu sử]] | [[Thể loại:Tiểu sử]] | ||