Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Lăng Hoàng Gia”

Không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
 
Dòng 1: Dòng 1:
Nằm ở xã Long Hưng, Gò Công, đây là nơi an nghỉ của dòng họ Phạm Đăng, gia tộc của Hoàng thái hậu Từ Dụ, mẹ của vua Tự Đức. Lăng mang đậm nét kiến trúc cung đình triều Nguyễn và là một di tích lịch sử quan trọng.
Nằm ở xã Long Hưng, Gò Công, đây là nơi an nghỉ của dòng họ Phạm Đăng, gia tộc của Hoàng thái hậu Từ Dụ, mẹ của vua Tự Đức. Lăng mang đậm nét kiến trúc cung đình triều Nguyễn và là một di tích lịch sử quan trọng.
 
[[Tập tin:Lăng mộ nhà họ Phạm.jpg|nhỏ|Lăng mộ nhà họ Phạm]]
Tại Gò-công người ta còn nhắc đến những ngôi cổ mộ của nhà họ Phạm, ở làng Tân-Niên-Đông cách tỉnh lỵ 3 cây số. Làng này là sinh quán của Bà Từ-Dũ, thân mẫu vua Tự- Đức, con gái của Ông Phạm-Đăng-Hưng.
Tại Gò-công người ta còn nhắc đến những ngôi cổ mộ của nhà họ Phạm, ở làng Tân-Niên-Đông cách tỉnh lỵ 3 cây số. Làng này là sinh quán của Bà Từ-Dũ, thân mẫu vua Tự- Đức, con gái của Ông Phạm-Đăng-Hưng.


Dòng 14: Dòng 14:


Theo sử liệu cho biết thì bản Hòa-ước ký tại Sàigòn ngày 15 tháng 3 năm 1874 giữa Pháp và Nam-triều, có một điều khoản quan-trọng nói về những ngôi mộ này. Điều khoản ấy là khoản 5 thỏa thuận như sau :
Theo sử liệu cho biết thì bản Hòa-ước ký tại Sàigòn ngày 15 tháng 3 năm 1874 giữa Pháp và Nam-triều, có một điều khoản quan-trọng nói về những ngôi mộ này. Điều khoản ấy là khoản 5 thỏa thuận như sau :
 
[[Tập tin:506094562 1263263918753765 51598.jpg|nhỏ|Lăng mộ nhà họ Phạm]]
'''ĐIỀU KHOẢN 5.''' Hoàng-đế nước Nam nhìn nhận chủ- quyền nước Pháp trên toàn lãnh thổ do Pháp quân chiếm đóng, gồm những miền có ranh giới kể sau đây:
'''ĐIỀU KHOẢN 5.''' Hoàng-đế nước Nam nhìn nhận chủ- quyền nước Pháp trên toàn lãnh thổ do Pháp quân chiếm đóng, gồm những miền có ranh giới kể sau đây:


Dòng 27: Dòng 27:
# Phạm-Đăng-Dinh, nội tổ Phạm-Đăng-Hưng, sanh năm Bính-dần (1717), tử ngày 8 tháng Giêng năm Tân-Mùi (1776), hưởng thọ 59 tuổi. Sau lúc ông mãn phần, vua Tự- Đức sắc phong Hàn-Lâm-Viện Chưởng-viện học-sĩ tước Bình-Thanh-Bá (Đệ-Tam-Đẳng Nam-Triều).
# Phạm-Đăng-Dinh, nội tổ Phạm-Đăng-Hưng, sanh năm Bính-dần (1717), tử ngày 8 tháng Giêng năm Tân-Mùi (1776), hưởng thọ 59 tuổi. Sau lúc ông mãn phần, vua Tự- Đức sắc phong Hàn-Lâm-Viện Chưởng-viện học-sĩ tước Bình-Thanh-Bá (Đệ-Tam-Đẳng Nam-Triều).
# Phạm-Đăng-Long, cố ngoại vua Tự-Đức, con của Phạm-Đăng-Dinh, sanh năm Canh-Tuất (1741), tử ngày mồng 3 tháng 7 năm Canh Ngọ (1810) hưởng thọ 69 tuổi. Được vua Tự-Đức truy-phong Tu-Thiên Đại-Phu (Nội-vụ Thượng-Thơ) tước Phước-An-Hầu và Trang-Nghị-Công (Đệ- Nhứt-Đẳng).
# Phạm-Đăng-Long, cố ngoại vua Tự-Đức, con của Phạm-Đăng-Dinh, sanh năm Canh-Tuất (1741), tử ngày mồng 3 tháng 7 năm Canh Ngọ (1810) hưởng thọ 69 tuổi. Được vua Tự-Đức truy-phong Tu-Thiên Đại-Phu (Nội-vụ Thượng-Thơ) tước Phước-An-Hầu và Trang-Nghị-Công (Đệ- Nhứt-Đẳng).
# Phạm-Thị-Tánh, bà cố ngoại vua Tự-Đức, vợ của Ông Phạm-Đăng-Long mẹ của Phạm-Đăng-Hưng, sanh năm Giáp-Tý (1743), tử ngày rằm tháng 9 năm Giáp-Tuất (1814) hưởng thọ 71 tuổi. Được tước phong Phu-nhơn đoan-khiết.
# [[Tập tin:506619168 1263264132087077 15273.jpg|nhỏ|Lăng mộ nhà họ Phạm]]Phạm-Thị-Tánh, bà cố ngoại vua Tự-Đức, vợ của Ông Phạm-Đăng-Long mẹ của Phạm-Đăng-Hưng, sanh năm Giáp-Tý (1743), tử ngày rằm tháng 9 năm Giáp-Tuất (1814) hưởng thọ 71 tuổi. Được tước phong Phu-nhơn đoan-khiết.
# Phạm-Đăng-Hưng, ngoại tổ vua Tự-Đức, con của Phạm-Đăng-Long và Phạm-thị-Tánh, sanh ngày 24 tháng 9 năm Ất-Dậu (1764), tử ngày 14 tháng 6 năm Ất-Dậu (1825), làm Lễ-Bộ Thượng-thơ dưới thời Minh-Mạng. Sau khi Ông chết được vua Tự-Đức truy-phong Vĩnh-Lộc đại-phu dục-quốc-Công và tước Trung-Nho-Công (Đệ-nhứt-Đẳng).
# Phạm-Đăng-Hưng, ngoại tổ vua Tự-Đức, con của Phạm-Đăng-Long và Phạm-thị-Tánh, sanh ngày 24 tháng 9 năm Ất-Dậu (1764), tử ngày 14 tháng 6 năm Ất-Dậu (1825), làm Lễ-Bộ Thượng-thơ dưới thời Minh-Mạng. Sau khi Ông chết được vua Tự-Đức truy-phong Vĩnh-Lộc đại-phu dục-quốc-Công và tước Trung-Nho-Công (Đệ-nhứt-Đẳng).
# Phạm-Thị-Du, bà ngoại vua Tự-Đức, vợ của Phạm- Đăng-Hưng sanh năm Mậu-Tý (1767), tử ngày 8 tháng 6 năm Tân-Tỵ (1821), hưởng thọ 54, được truy-phong Nhứt- Phẩm Phu-Nhơn đoan tụ.
# Phạm-Thị-Du, bà ngoại vua Tự-Đức, vợ của Phạm- Đăng-Hưng sanh năm Mậu-Tý (1767), tử ngày 8 tháng 6 năm Tân-Tỵ (1821), hưởng thọ 54, được truy-phong Nhứt- Phẩm Phu-Nhơn đoan tụ.
Dòng 40: Dòng 40:
Điều đó đúng với câu thành-ngữ thời quân-chủ : « Nhất nữ thọ hoàng-ân, toàn gia hưởng thiên lộc ». Trong đền có để một tấm bia gỗ sơn son thếp vàng chép lại những chữ khắc trong bia đá dựng trước mộ Đức-Quốc-Công bên cạnh đền thờ, do cụ Phan-Thanh-Giản đề để xưng tụng công- nghiệp của Ngài, mỗi năm có 2 lễ Xuân, Thu quý tế do Tri- huyện Tân-Hòa thủ lễ cho tới khi Pháp thuộc mới bãi-bỏ, chỉ còn giỗ như thường lệ nhưng cũng có nhạc lễ và hương chức sở tại đến cúng.
Điều đó đúng với câu thành-ngữ thời quân-chủ : « Nhất nữ thọ hoàng-ân, toàn gia hưởng thiên lộc ». Trong đền có để một tấm bia gỗ sơn son thếp vàng chép lại những chữ khắc trong bia đá dựng trước mộ Đức-Quốc-Công bên cạnh đền thờ, do cụ Phan-Thanh-Giản đề để xưng tụng công- nghiệp của Ngài, mỗi năm có 2 lễ Xuân, Thu quý tế do Tri- huyện Tân-Hòa thủ lễ cho tới khi Pháp thuộc mới bãi-bỏ, chỉ còn giỗ như thường lệ nhưng cũng có nhạc lễ và hương chức sở tại đến cúng.
[[Thể loại:Địa lý]]
[[Thể loại:Địa lý]]
[[Thể loại:Gò Công]]