<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wiki.gocong.org/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Admin</id>
	<title>Gò Công Wiki - Bách khoa toàn thư về Gò Công - Đóng góp của người dùng [vi]</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wiki.gocong.org/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Admin"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/%C4%90%E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t:%C4%90%C3%B3ng_g%C3%B3p/Admin"/>
	<updated>2026-09-13T01:25:41Z</updated>
	<subtitle>Đóng góp của người dùng</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.45.3</generator>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Nam_Ph%C6%B0%C6%A1ng_Ho%C3%A0ng_h%E1%BA%ADu&amp;diff=3011</id>
		<title>Nam Phương Hoàng hậu</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Nam_Ph%C6%B0%C6%A1ng_Ho%C3%A0ng_h%E1%BA%ADu&amp;diff=3011"/>
		<updated>2026-09-10T21:27:05Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;=== (1914 – 1963) ===&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Tờ Hà Thành Ngọ Báo số ra ngày 11 tháng 06 năm 1934 trong mục Tin Kinh đô đã thông tin về việc Hoàng đế Bảo Đại cải chính danh hiệu của Nam Phương Hoàng hậu.&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Theo bài báo, ban đầu Hoàng đế Bảo Đại đã hạ chỉ dụ đặt danh hiệu là NAM HƯƠNG HOÀNG HẬU với ý nghĩa “Hương thơm từ phương Nam” (Parfum du Sud – 南香皇后). Tuy nhiên khi một viên Chấp sự trong Nội các ghi lại bằng chữ quốc ngữ đã chép nhầm chữ HƯƠNG thành chữ PHƯƠNG, và từ đó cái tên NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU đã được sử dụng cho đến nay dù danh hiệu này… sai so với ý gốc của Hoàng đế?&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Tên theo Việt ngữ của Hoàng Hậu là Nguyễn Thị Lan chứ không phải Nguyễn Hữu Thị Lan. Trường hợp Nguyễn Hữu này cũng tương đồng với trường hợp Ngô Đình sau này. Hậu thế chỉ vì muốn&#039;&#039; &#039;&#039;ca tụng cá nhân nên tự ý thêm chữ này chữ kia vào danh tính cho ra vẻ sang cả quý phái, trái với sự thực trong lịch sử. Làm gì có Nguyễn Hữu Thị Lan?&#039;&#039;[[Tập tin:Anh-cuc-quy-ve-ve-dep-tuyet-sac-cua-nam-phuong-hoang-hau.jpg|nhỏ|Nam Phương Hoàng hậu]]&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;Dòng dõi hoàng hậu Nam Phương&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Philippe Lê Phát Đạt (1841-1900) và Huỳnh Thị Tài (1845-1920) sinh ra 7 người con sau: Nicolas Lê Phát Tân (1860-1949), Jean Baptiste Lê Phát Thành (1864-1948), Denis Lê  Phát An (1868-1946), Pierre Lê Phát Vinh (1878-1957), Marie Lê Thị Bình (1879-1964)  và hai con gái khác không biết tên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;I-Nhánh Marie Lê Thị Bình&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bà Marie Lê Thị Bình có chồng tên Pierre Nguyễn Hữu Hào (1870-1937). Hai người có hai  con gái sau: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1-Agnès Nguyễn Hữu Hào (1903-1998), chồng là bá tước Pierre Didelot, người Pháp.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2-Jeanne-Marie Nguyễn Thị Lan (1913-1963), tức là Nam Hương Hoàng hậu. Nam Phương 南芳có nghĩa là hương thơm ở phía Nam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, Lê Phát Đạt là ông ngoại của Nam Phương. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ông Lê Phát Đạt theo đạo Cơ đốc giáo (Thiên chúa), thời trẻ du học ở Penang Mã Lai. Ông  có nhiều đồn điền lớn ở Nam bộ và thành viên đầu tiên của Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ  (Conseil colonial) thành lập năm 1880. Ông thuộc thành phần người giàu có ở Nam bộ và  đương nhiên có quốc tịch Pháp. Nhà thờ Huyện Sỹ ở Chợ Đuĩ Saigon, nhà thờ Chí Hoà  (quận 10) và nhà thờ Hạnh Thông Tây (Gò Vấp) là do chính ông xây cất. Dân gian đương thời có câu: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa“ (có nơi chép tứ  Trạch, tức là hội đồng Trạch Bạc Liêu). Sỹ là Huyện Sỹ Lê Phát Đạt, Phương là Tổng đốc  Đỗ Hữu Phương (1841-1914), con của bá hộ Khiêm có Pháp tịch năm 1881. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xường tên  thật là Lý Trường Quan (1842-1896), người gốc Minh hương, nhà cũ ở đường Hải thượng  Lãn ông trong Chợ Lớn. Ông hành nghề thông ngôn, thông thạo tiếng Pháp và tiếng Hoa.  Người dân thường gọi ông là bá hộ Xường vì ông là người thứ ba giàu có ở Nam Kỳ. Hoả là  Hui Bon Hỏa, tên chính xác là Hứa Bổn Hòa (1845-1901), người gốc Hoa. Ba công trình đồ  sộ do ông để lại cho dân Saigòn là bệnh viện Từ Dũ, biệt thự gia đình về sau trở thành viện  bảo tàng Mỹ thuật ở đường Phó Đức Chính và khách sạn hạng sang Majestic. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có lẽ phải nói thêm người giàu có thứ năm đương thời là Hội đồng Trạch ở Bạc Liêu. Ông  tên thật là Trần Trinh Trạch (1872-1942). Thuở hàn vi, ông giữ trâu cho một bá hộ điền  chủ giàu có ở Bạc Liêu. Nhờ đi học thay cho con trưởng của ông điền chủ nên trở thành  thầy ký toà bố rồi “ẩm“ luôn một con gái của một bá hộ khác tên Phan Văn Bí. Từ đó trở  đi, ông thu mua đất đai của những điền chủ “thất cơ lỡ vận“. Khoảng 1930-1940, tài sản  của ông lên đến 100.000 hecta ruộng lúa và gần 100.000 hecta ruộng muối. Biệt thự tráng  lệ của ông ở Bạc Liêu ngày nay trở thành điểm tham quan du lịch củ tỉnh. Điều bất hạnh  cho ông là người con thứ ba Trần Trinh Huy (1900-1974) còn gọi là công tử Bạc Liêu phá  của đến khánh kiệt đến nỗi con cháu trở nên nghèo khó, có người phải chạy xe ôm để  sống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nguyễn Hữu Hào, cha của Nam Phương, người gốc Gò Công xuất thân trong một gia đình  khiêm tốn. Ông theo đạo công giáo và hành nghề thầy ký giữ sổ sách (Commis aux  écritures) biết tiếng Pháp. Cuộc đời của ông “lên hương“ nhờ sự giới thiệu của giám mục  Mossat của Hội truyền giáo nước ngoài ở Saigon (Missions étrangères de Paris) cho ông &#039;&#039;&#039; &#039;&#039;&#039;Lê Phát Đạt để giữ sổ sách. Rồi sau đó nhờ làm việc chăm chỉ siêng năng nên ông được Lê  Phát Đạt cho phép cưới con gái “rượu“ Marie Lê Thị Bình. Trước khi sắp qua đời năm  1937, Nguyễn Hữu Hào được chính quyền thuộc địa phong tặng huân chương Bắc đẩu Bội  tinh (Légion d’honneur). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày phong hàm có sự tham dự của thống đốc Nam Kỳ Pierre  Pagès và nhiều quan chức thuộc địa. Đương nhiên, Bảo Đại và Nam Phương cùng cả họ  hàng trong gia đình cũng có mặt. Bảo Đại còn phong cho cha vợ mình chức “Quận công  Long Mỹ“, tên một huyện của Rạch Giá, nơi Nguyễn Hữu Hào có nhiều đồng ruộng. Agnès Nguyễn Hữu Hào được sang Pháp năm 1920 du học ở trường “Dòng Đức Bà“  (Congrégation de Notre Dame) ở phố Lincoln Paris rồi về sau định cư luôn sau khi lấy  chồng với bá tước Didelot. Năm 1922, cả gia đình Nguyễn Hữu Hào có sang Paris thăm  Agnès. Năm 1927, Nguyễn Hữu Thị Lan cũng được gửi sang du học nhưng ở “Ký túc xá bà  xơ“ (Couvent des Oiseaux) ở 60 phố Ponthieu Paris cho đến tháng 9-1932 thì về nước.  Trường này do các nữ tu điều khiển không những dạy theo chương trình Nhà nước mà  còn dạy cung cách nghi lễ quý phái. Về sau, Nam Phương cũng bắt chước thành lập một  “Couvent des Oiseaux“ ở Đà Lạt. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một cách tình cờ, tháng 9-1932, Nguyễn Hữu Thị Lan về cùng chung chuyến tàu  d’Artagnan của hãng Messageries Maritimes với hoàng tử Vĩnh Thuỵ về nước để lên ngôi  hoàng đế. Khi vua cha Khải Định băng hà ngày 6-11-1925, hoàng tử Vĩnh Thuỵ lên ngôi  thế cha vào ngày 8-1-1926 rồi trở lại Pháp tiếp tục học hành. Triều đình do thượng thư bộ  Hình (Tư Pháp) Tôn Thất Hân (1853-1944) và thượng thư bộ Lễ Nguyễn Hữu Bài (1863- 1935) làm nhiếp chính trong thời gian vua Bảo Đại vắng mặt. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào thời đó, Vĩnh Thuỵ và Nguyễn Hữu Thị Lan chưa biết nhau ở Paris. Phải đợi khi về  nước, hai người mới biết nhau ở Đà Lạt qua sự sắp xếp của gia đình với sự đồng loã của  chính quyền thuộc địa. Cuối cùng, hai người kết hôn ngày 20-3-1934 tại điện Cần Chính ở  Huế. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dù vậy, cuộc hôn nhân này gặp không ít trắc trở vào lúc ban đầu. Lần đầu tiên, trong triều  đình nhà Nguyễn, hoàng hậu là người công giáo trong khi vua theo truyền thống là Khổng  giáo nếu không nói là Phật giáo. Trong triều đình, Hoàng thái hậu Từ Cung và đại thần  nhiếp chính Tôn Thất Hân cũng như đa số quan lại chống đối cuộc hôn nhân này. Về phía  gia đình Nguyễn Hữu Thị Lan, mọi người không ai đồng ý con mình phải bỏ đạo, thậm chí  còn đòi Bảo Đại phải theo đạo vợ!. Ngoài ra, tục lệ công giáo bắt buộc người chồng hay vợ  không có đạo phải nhập đạo công giáo. Do vua không thể theo đạo công giáo, tân lang  không muốn bỏ đạo của mình, tình trạng trở nên bế tắc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do Bảo Đại là vua của một nước, lối thoát duy nhất là xin phép Giáo hoàng Pie XI cho phép  “trường hợp đặc biệt“. Đại sứ Pháp bên cạnh Vatican được giao phó nhiệm vụ làm áp lực  với người thân cận của Giáo hoàng. Lúc ban đầu, Giáo hoàng không đồng ý!. Sau nhiều lần  bị làm áp lực, Giáo hoàng cuối cùng đồng ý với hai điều kiện: một là hoàng hậu vẫn giữ  đạo công giáo, hai là các con phải được làm lễ rửa tội (baptisé). Nói một cách khác là phải  vào đạo thiên chúa!. Nếu việc hoàng hậu giữ đạo của mình, vấn đề không gặp khó khăn,  trái lại việc con cái phải rửa tội trở thành nan giải. Vì lẽ là con khi nối ngôi vua cha không  thể là người công giáo. Như vậy phải làm sao?. Trong một thời gian, mọi người đều nghĩ  rằng cuộc hôn nhân không thể thành hình nhưng vua Bảo Đại quyết tâm thực hiện cho kỳ  được và có ý định coi thường (passer outre) lệnh Giáo hoàng. Nhưng các quan chức thân  gần cho đây không phải là ý kiến hay. Cuối cùng Bảo Đại phải nhượng bộ. Nhưng thay vì  rửa tội công khai thì làm rửa tội “thầm lén“!. Về sau, có nhiều người hỏi Nam Phương và  Bảo Long (con trưởng) về việc này thì được trả lời “không có“!. Năm 1939, trong chuyến  trở lại Pháp, Nam Phương được Giáo hoàng mới Pie XII trọng thể tiếp đón. “Chuyện cũ“  với Giáo hoàng Pie XI được coi như thuộc về quá khứ và Nam Phương được chính thức hoá là người công giáo. Điều này làm một số quan chức trong triều bất mãn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một cách nghịch lý, Bảo Đại vào cuối đời khi cưới bà Monique Baudot năm 1972, người  công giáo, phải vào đạo với tên thánh Jean-Robert trước khi qua đời ngày 31-7-1997 ở  bệnh viện Val de Grâce Paris và được chôn cất ở nghĩa trang sang Passy ở Paris. Cần phải nói thêm rằng trong lịch sử triều Nguyễn, chưa có ai được tấn phong hoàng hậu  khi vừa kết hôn với vua. Trước đó, 12 bà Hoàng của cung đình chỉ được tấn phong là  Vương Phi. Họ chi được trở thành hoàng hậu khi nhà vua băng hà. Lại nữa, do Bảo Đại  trước đỏ huỷ bỏ chế độ đa thê nên chỉ có con vợ chính mới có thể kế tục vua trái với tục lệ  truyền thống theo đó vua có thể truất ngôi con của vợ chính. Trường hợp của Nam  Phương thật có nhiều biệt lệ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;II-Cuộc sống của Nam Phương vào cuối đời&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Việt Minh cướp chính quyền tháng 8-1945, Bảo Đại ra Hà Nội làm “cố vấn“ cho HCM  thì Nam Phương và các con về sống ở biệt thự An Định. Mãi đến hai năm sau, Nam  Phương và các con mới sang Hongkong ngày 1-9-1947 gặp Bảo Đại đang lưu vong ớ đó.  Ngày 9-9-1947, Nam Phương và Bảo Đại có tiếp đoàn đại biểu ba Kỳ sang Hongkong với  mục tiêu tìm giải pháp Bảo Đại về nước chấp chính. Ngày 25-10-1947, Nam Phương và  các con sang Pháp cư trú ở lâu đài Thorenc, ngoại ô thành phố Cannes thuộc miền nam  nước Pháp. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau một thời gian dài sống chung với Bảo Đại từ năm 1947 đến năm 1958 ở lâu đài  Thorenc (lâu đài bán năm 1960 vì Bảo Đại cần tiền), Nam Phương vào cuối đời buồn nản  ra sống riêng vì Bảo Đại có cuộc sống phóng đãng với nhiều phụ nữ và cờ bạc đến sạch tuí.  Bà về sống một mình ở Chabrignac, một làng nhỏ thuộc tỉnh Corrèze, miền trung nước  Pháp. Ở đây bà mua một đồn điền 100 hec-ta có tên “La Perche“ và sống như người “nông  dân“ địa phương. Bà qua đời ở đó ngày 15-9-1963 sau một cơn bệnh ngắn, hưởng thọ 50  tuổi. Bà bị nghẹt thở hay viêm tấy (Phlegmon). Bà được chôn cất ở nghĩa trang công cộng  gần đó. Về sau, tro của Bảo Long và Bảo Thắng (con Ủt) cũng được đưa về đó. Đồn điền  của bà được ông André Mourand mua lại năm 1964 rồi sau đó bán lại cho người khác  năm 1970. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày qua đời của Nam Phương, Bảo Đại và các con có mặt cùng với những người thân gần  tham dự tang lễ. Chính quyền địa phương có tỉnh trưởng đại diện. Phía người Việt Nam có  chị Agnès Didelot và chồng, hoàng thân Bửu Lộc, hoàng thân Vĩnh Cẩn, tướng Nguyễn Văn  Hinh, cựu bí thư của Nam Phương Nguyễn Tiến Lãng và Trần Kim Tuyến. Mẹ của Nam  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phương, bà Marie Lê Thị Bình lúc đó ở Neuilly do tuổi cao (84 tuổi) không thể tham dự.  Ngoài ra, công chúa Như Lý (1908-2005) con vua Hàm Nghi cư ngụ ở Vigeois cùng tỉnh  Corrèze cách đó không xa do chồng François Barthomivat (quận tước de la Besse) đại  diện. Tương truyền nói rằng công chúa Như Lý không muốn gặp Nam Phương vào lúc  sinh thời vì vua Hàm Nghi bị lưu đày do chống Pháp còn Bảo Đại thì thân Pháp. Lại nữa, lý  lịch Bảo Đại, con vua Khải Định còn “mù mờ“. Công chúa Như Lý là bác sĩ Y khoa thành  hôn với quận công François de la Besse. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;III-Sau đây là 5 con của Nam Phương với Bảo Đại&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1-Nguyễn Phúc Bảo Long sinh tại Huế ngày 4-1-1936 và qua đời ngày 28-7-2007 ở Sens  (Pháp). Lúc thiếu thời, Bảo Long, năm 1948, được gửi nội trú ở Collège des Roches ở  Maslacq, một làng nhỏ thuộc tỉnh Pau. Đó là một trường tư dạy theo cơ đốc giáo. Sau khi  có tú tài toàn phần thì được gửi vào học trường quân sự Saint-Cyr, ngoại ô Paris rồi tiếp  tục học trường kỵ binh Saumur. Sau khi ra trường, Bảo Long tình nguyện đăng ký làm sĩ &#039;&#039;&#039; &#039;&#039;&#039;quan Lê Dương (Légion étrangère) đi phục vụ ở Algeria trong 10 năm. Về Paris, ông tiếp  tục học trường Khoa học Chính trị (Sciences Po) rồi hành nghề chuyên viên ngân hàng. Về  đời tư, Bảo Long có chung sống với một phụ nữ tên Isabelle Marry có nhiều đời chồng và  có con riêng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2-Nguyễn Phúc Phương Mai sinh tại Đà Lạt ngày 1-8-1937, có trình độ trung học. Lúc  thiếu thời, Phương Mai cũng được gửi đi học ở Couvent des Oiseaux. Năm 1971, Phương  Mai kết hôn với Pietro Badoglio, cháu nội của nguyên soái Badoglio, có lúc là thủ tướng  nước Ý. Hai người có một con Flavio (1973). Sách thường ghi chép người con gái Manuela  (1959) là con của Pietro Badoglio với Phương Mai nhưng không đúng. Phương Mai trước  khi lấy chồng có con riêng với một người Anh. Khi chồng Pietro qua đời năm 1992,  Phương Mai về Pháp sống ở Louveciennes, một ngoại ô sang trọng của Paris. Phương  Dung về sau cũng về đó sống chung với chị.  [Công chúa Phương Mai qua đời ngày 16-1-2021 ở Louveciennes] &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3-Nguyễn Phúc Phương Liên sinh tại Đà Lạt ngày 3-11-1938, có tú tài toàn phần. Lúc  thiếu thời cũng học ở Couvent des Oiseaux ở Neuilly, ngoại ô sang Paris. Bà kết hôn với  Bernard Soulan, chủ ngân hàng ở Bordeaux. Phương Liên hành nghề chuyên viên ngân  hàng. Hai người có hai con gái Valérie sinh năm 1963 và Caroline sinh năm 1966. Ông  Soulan qua đời năm 2017. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4-Nguyễn Phúc Phương Dung sinh tại Huế ngày 5-2-1942, có tú tài toàn phần. Lúc thiếu  thời cũng học ở Couvent des Oiseaux ở Neuilly. Có chồng một doanh nhân người Pháp đã  qua đời. Hai người có một con trai tên Benjamin Phương Nguyễn. Phương Dung hành  nghề chuyên gia về trẻ con. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5-Nguyễn Phúc Bảo Thắng sinh tại Đà Lạt ngày 30-9-1943 và qua đời ở Paris ngày 15-3- 2017. Lúc thiếu thời, Bảo Thắng cũng được gửi học Viện Stanilas ở Cannes, một chi ngánh  của Viện Stanilas Paris, một trường công giáo. Người ta không biết gì nhiều về người con  Út này. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nói tóm lại, các con của Nam Phương đều theo học trường công giáo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;Thay lời kết&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nam Phương còn được gọi là Hương thơm miền Nam trong gia đình vọng tộc có tiếng ở  Nam Bộ, thuộc loại người biệt lệ. Bà là người độc nhất theo đạo công giáo được phong  hoàng hậu khi còn sống của triều đình nhà Nguyễn. Bà một thời sống trong nhung lụa bên  cạnh một nhà vua phóng đãng. Thế nhưng, khi chính biến năm 1945, bà sống trong sợ hãi  gần hai năm để vào cuối đời sống trong buồn nản rồi qua đời không có thân nhân bên  cạnh ở tuổi hồi xuân vừa đúng 50. Thật là đáng cảm kích và thương tâm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Cuốn sách &amp;quot;Theo Dấu Hoàng Hậu Nam Phương và Vua Bảo Đại&amp;quot; cùng các bài khảo cứu tiểu sử độc lập (như của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn) đã chỉ rõ:&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Chi tiết nội dung: Trong tất cả các giấy tờ khai sinh và giấy tờ rửa tội tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn (vào ngày 18/11/1913), tên thật của bà được ghi nhận rành rành là Jeanne Mariette Nguyễn Thị Lan.&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Lý giải sự thêu dệt: Thân phụ của bà tên là Pierre Nguyễn Hữu Hào (tước Quận công). Theo thói quen Nho giáo và tâm lý sính chuộng sự quyền quý của người đời sau, chữ &amp;quot;Hữu&amp;quot; đã được tự ý cắt ghép từ tên của cha bà đưa vào tên con gái thành &amp;quot;Nguyễn Hữu Thị Lan&amp;quot; để tạo cảm giác về một dòng họ mang danh gia vọng tộc.&#039;&#039;&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tiểu sử]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Trang_Ch%C3%ADnh&amp;diff=3010</id>
		<title>Trang Chính</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Trang_Ch%C3%ADnh&amp;diff=3010"/>
		<updated>2026-09-10T18:46:49Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: /* Thống kê */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;big&amp;gt;&#039;&#039;&#039;Gò Công - Bách khoa toàn thư&#039;&#039;&#039;&amp;lt;/big&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Gcoongorgg.jpg|nhỏ|Logo: Nguyen Pham]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Thanh lịch [[Gò Công]] xứ biết chơi,&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;[[Địa linh nhân kiệt|Địa linh nhơn kiệt]] quả như lời.&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Võ công hùng cứ bia ngàn thuở,&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Phạm tộc phủ thờ quới một nơi.&#039;&#039;&amp;lt;ref&amp;gt;[[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca]]&amp;lt;/ref&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công là tỉnh cũ ([[Tỉnh Gò Công]]) ở miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long), Việt Nam. Tỉnh này được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1900, tồn tại vào [[thời Pháp thuộc]] và bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể vào cuối năm 1956. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, sau đó tỉnh Gò Công lại được chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập vào năm 1963, tiếp tục tồn tại và bị mất tên gọi đơn vị hành chính cấp tỉnh từ tháng 2 năm 1976 cho đến 2025 thì bị sáp nhập vào tỉnh Đồng Tháp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tên gọi ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về các tên cũ của vùng đất Gò Công trong lịch sử, nó đã trải qua một số tên gọi và cách gọi khác nhau tùy theo thời kỳ và cách tổ chức hành chính:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable sortable hometable&amp;quot; style=&amp;quot;float:right; max-width:450px;&amp;quot;&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Gò Công&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tra cứu địa điểm Gò Công&lt;br /&gt;
|https://diadiemgocong.com&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Địa lý&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |&#039;&#039;&#039;Tọa độ:&#039;&#039;&#039; 10°22′B 106°40′Đ / 10,36°B 106,66°Đ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Diện tích&lt;br /&gt;
|102,36 km²&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Dân số (2022)&lt;br /&gt;
|151.937 người&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Mật độ&lt;br /&gt;
|1.4843 người/km²&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Dân tộc&lt;br /&gt;
|Chủ yếu là Kinh và Hoa&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Hành chính&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Quốc gia&lt;br /&gt;
|Việt Nam&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Vùng&lt;br /&gt;
|Tây Nam Bộ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Thành lập&lt;br /&gt;
|16/2/1987&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tên gọi&lt;br /&gt;
|Các giả thuyết về [[tên gọi Gò Công]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Bản đồ&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
* [[Bản đồ Gò Công]]&lt;br /&gt;
* [[Thành phố Gò Công]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Khu vực&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công|Vùng Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Lôi Lạp]]&lt;br /&gt;
** [[Huyện Tân Hòa]]&lt;br /&gt;
** [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi]]&lt;br /&gt;
** [[Làng Thành Phố]]&lt;br /&gt;
** [[Tỉnh Gò Công]] ([[Tỉnh Gò Công 1900-1913; 1924-1954|1900-1913; 1924-1954,]] [[Tỉnh Gò Công 1968-1975|1968-1975]], [[Tỉnh Gò Công 1954-1956; 1963-1975|1954-1956; 1963-1975]], [[Quận Gò Công]])&lt;br /&gt;
** [[Thị trấn Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Thị xã Gò Công]] ([[Thị xã Gò Công 2020|2020]])&lt;br /&gt;
** [[Thành phố Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Phường Gò Công]]&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công Đông|Vùng Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
** [[Gò Công Đông|Huyện Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công Tây|Vùng Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
** [[Gò Công Tây|Huyện Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
*[[:Thể loại:Tân Phú Đông|Vùng Tân Phú Đông]]&lt;br /&gt;
**[[Huyện Tân Phú Đông]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Thơ ca - Nghệ thuật&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Ca dao|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Ca dao&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Nhạc Gò Công|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Nhạc Gò Công&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Văn thơ về Gò Công|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Văn thơ về Gò Công&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Văn hóa - Lễ hội&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Văn hóa|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Văn hóa&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Từ địa phương&lt;br /&gt;
| [[:Thể loại:Phương ngữ|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Phương ngữ&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tên gọi - Địa Danh&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Danh xưng|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Danh xưng&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Địa lý|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Địa lý&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Đặc sản - Làng nghề&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Đặc sản|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Đặc sản&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Sản phẩm truyền thống|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Sản phẩm truyền thống&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Khảo cứu&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Tiểu sử|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Tiểu sử&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Tài liệu|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Tài liệu&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Hình ảnh|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Hình ảnh&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Chuyện xưa, Tích cũ|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Chuyện xưa, Tích cũ&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Giao thông - Vị trí&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Đường Sá|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Đường Sá&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Giáo dục|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Giáo dục&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Nhóm Facebook&lt;br /&gt;
|https://www.facebook.com/groups/gocong&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Lôi Lạp]]&amp;lt;ref&amp;gt;Lôi Lạp (雷巤) chính là một tên gọi cũ, mang tính lịch sử của vùng đất Gò Công ngày nay (thuộc tỉnh Tiền Giang).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo các tài liệu lịch sử và địa chí:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vùng đất Lôi Lạp xưa được nhắc đến vào khoảng năm 1757, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lôi Lạp (雷巤) là tên gọi ban đầu của vùng bán đảo Gò Công hiện tại.&amp;lt;/ref&amp;gt; (雷巤): Đây là tên gọi của vùng đất này khi nó còn là một phủ của vương triều Khmer (Chân Lạp) trước năm 1757.&lt;br /&gt;
* [[Huyện Tân Hòa]]: Sau khi được Chúa Nguyễn tiếp quản, vùng Gò Công là một phần của huyện Tân Hòa, thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định. Lúc này, “Gò Công” chỉ là tên của nơi đặt lỵ sở (trung tâm hành chính) của huyện Tân Hòa.&lt;br /&gt;
* [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi]]: Vào thời vua Gia Long (đầu thế kỷ 19), trung tâm thị xã Gò Công ngày nay là hai thôn nhỏ này.&lt;br /&gt;
* [[Làng Thành Phố]]: Đến năm 1885, hai làng Thuận Tắc và Thuận Ngãi được sáp nhập và đổi tên thành “làng Thành Phố”. Đây là một cái tên khá độc đáo và có ý nghĩa quan trọng, cho thấy đây là một đô thị sớm phát triển ở Nam Kỳ.&amp;lt;ref&amp;gt;Gò Công – Bí ẩn Làng thành phố đầu tiên của lục tỉnh – Kỳ 1: Tìm lại dấu xưa Làng thành phố https://gocong.org/go-cong-bi-an-lang-thanh-pho-dau-tien-cua-luc-tinh-ky-1-tim-lai-dau-xua-lang-thanh-pho/&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bóng hình làng Thành Phố https://gocong.org/go-cong-bi-an-lang-thanh-pho-dau-tien-cua-luc-tinh-ky-1-tim-lai-dau-xua-lang-thanh-pho/ &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Pháp lập làng thành phố làm Tỉnh lỵ Gò Công https://gocong.org/phap-lap-lang-thanh-pho-lam-tinh-ly-go-cong/&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* [[Tỉnh Gò Công]]: Trong một số giai đoạn dưới thời Pháp thuộc và thời Việt Nam Cộng hòa, Gò Công được nâng lên thành một tỉnh riêng biệt, với tỉnh lỵ đặt tại làng Thành Phố (sau là [[xã Long Thuận]]).&lt;br /&gt;
* [[Thị xã Gò Công]]: Sau năm 1975, khi các tỉnh sáp nhập để thành lập tỉnh Tiền Giang, Gò Công trở thành thị xã thuộc tỉnh Tiền Giang. Thậm chí có một giai đoạn ngắn (năm 1977-1979), thị xã Gò Công còn bị hạ cấp thành thị trấn Gò Công thuộc huyện Gò Công.&lt;br /&gt;
* [[Thành phố Gò Công]]: Kể từ ngày 1 tháng 5 năm 2024, Thị xã Gò Công đã chính thức được công nhận là Thành phố Gò Công trực thuộc tỉnh Tiền Giang.&lt;br /&gt;
Tên gọi Gò Công còn chỉ:&lt;br /&gt;
* Huyện [[Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
* Huyện [[Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
* Tỉnh cũ Gò Công, tồn tại trong hai giai đoạn 1900-1956 và 1963-1976; nay là một phần tỉnh Tiền Giang&lt;br /&gt;
* Huyện cũ Gò Công, ban đầu thuộc tỉnh tỉnh Mỹ Tho và sau đó thuộc Tiền Giang cho đến năm 1979; tương ứng với địa bàn [[thành phố Gò Công]], Gò Công Đông, Gò Công Tây và [[Tân Phú Đông]] thuộc tỉnh Tiền Giang&lt;br /&gt;
* [[Thị trấn Gò Công|Thị trấn cũ Gò Công]] thuộc huyện Gò Công, tồn tại từ 1977 đến 1987; tương ứng với phường 1 và phường 2 thuộc thành phố Gò Công&lt;br /&gt;
* Địa danh cũ Gò Công thuộc [[tổng Long Vĩnh Hạ]], huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa xưa; nay thuộc phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức.&lt;br /&gt;
[[Tập tin:1881.jpg|nhỏ|Bản đồ Gò Công 1881]]&lt;br /&gt;
=== Thời nhà Nguyễn và đầu thời Pháp thuộc ===&lt;br /&gt;
Chúa Nguyễn Ánh sau khi chạy sang Xiêm, vào năm Đinh-Vị 1787 kéo quân trở về và qua vùng Gò Công (lúc đó thuộc huyện Tân-Hòa, tỉnh Định Tường), ông tiến hành củng cố quyền lực Nam Kỳ. [[Gò Công Được Lập Nền Hành Chánh]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công thuộc huyện [[Tân Hòa]], phủ [[Tân An]], tỉnh [[Gia Định]]. Năm 1885, người Pháp gọi vùng đất này là &amp;quot;[[Làng thành phố]]&amp;quot;, đô thị đầu tiên mang tên thành phố của Nam Kỳ Lục tỉnh, là sự hợp nhất của hai làng [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi|Thuận Tắc và Thuận Ngãi]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Pháp thuộc ===&lt;br /&gt;
Năm 1876 Gò Công, vốn trước kia thuộc tỉnh [[Định Tường]] thời “[[Nam Kỳ Lục Tỉnh|Nam Kỳ lục tỉnh]]”&amp;lt;ref&amp;gt;Nam Kỳ Lục Tỉnh là tên gọi chính thức của sáu tỉnh thuộc miền Nam Việt Nam được người Pháp và triều Nguyễn tổ chức từ năm 1867–1868, sau khi Pháp chiếm trọn Nam Kỳ. Đây là giai đoạn hành chính quan trọng trong lịch sử Nam Bộ. &amp;lt;/ref&amp;gt; (tiếng Pháp: &#039;&#039;[[Cochinchine]]&#039;&#039;), trở thành một hạt tham biện (arrondissement) thuộc khu vực (circonscription) Mỹ Tho do thực dân Pháp đặt ra. Hạt tham biện (còn gọi là Tiểu khu hành chính, trị sở được dân gian quen gọi là tòa Bố) Gò Công gồm 4 tổng: [[Tổng Hòa Đồng Thượng|Hòa Đồng Thượng]] (có 8 làng), [[Tổng Hòa Đồng Hạ|Hòa Đồng Hạ]] (có 10 làng), [[Tổng Hòa Lạc Thượng|Hòa Lạc Thượng]] (có 10 làng), [[Tổng Hòa Lạc Hạ|Hòa Lạc Hạ]] (có 12 làng). Xem chi tiết bài [https://gocong.org/go-cong-tien-giang-hon-100-nam-truoc/ Gò Công – Tiền Giang hơn 100 năm trước]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Gò Công trở thành tỉnh Gò Công, với số tổng và số làng không đổi. Tỉnh lị là [[thị xã Gò Công]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, Gò Công trở thành quận thuộc tỉnh Mỹ Tho. Sau đó lại tái lập tỉnh Gò Công với 5 tổng, thêm [[tổng Hòa Đồng Trung]], số làng cũng thay đổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Việt Nam Cộng Hòa ===&lt;br /&gt;
Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sáp nhập tỉnh Gò Công vào tỉnh Định Tường mới thành lập trên phần đất tỉnh Mỹ Tho. Ngày 20 tháng 12 năm 1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập tỉnh Gò Công, tách từ tỉnh Định Tường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công là một tỉnh nhỏ, phía bắc với giáp hai tỉnh Long An và Gia Định, phía đông là biển Đông, phía nam giáp tỉnh Kiến Hòa, phía tây giáp tỉnh Định Tường. Ranh giới phía nam của Gò Công là [[sông Cửa Đại]], ranh giới phía bắc là [[Sông Vàm Cỏ|sông Vàm Cỏ Tây]], còn ranh giới phía đông bắc là sông Nhà Bè đổ ra cửa Soài Rạp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi mới tái lập tỉnh Gò Công gồm 2 quận [[Quận Châu Thành|Châu Thành]] (đổi tên từ [[quận Gò Công]]) và [[Quận Hòa Đồng|Hòa Đồng]] với 4 tổng 31 xã. Ngày 6 tháng 4 năm 1965, chia quận Châu Thành (tỉnh Gò Công) thành 2 quận: [[Quận Hòa Tân|Hòa Tân]], quận lỵ tại [[xã Tân Niên Tây]] với 9 xã; [[Quận Hòa Lạc|Hòa Lạc]], quận lỵ tại [[xã Tăng Hòa]] với 9 xã; chia [[quận Hòa Đồng]] thành 2 quận: Hòa Đồng, quận lỵ tại xã Vĩnh Bình với 8 xã; [[Quận Hòa Bình|Hòa Bình]], quận lỵ tại [[xã Bình Luông Đông]] với 5 xã. Như vậy tỉnh Gò Công có 4 quận.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 2 năm 1976 tỉnh Gò Công nhập với Mỹ Tho thành tỉnh Tiền Giang. Hiện nay địa bàn tỉnh Gò Công cũ tương ứng với thị xã Gò Công và các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ===&lt;br /&gt;
Tháng 2 năm 1976, tỉnh Gò Công hợp nhất với tỉnh Mỹ Tho và thành phố Mỹ Tho để trở thành tỉnh Tiền Giang. Đô thị Gò Công trở thành thị xã trực thuộc tỉnh Tiền Giang cho đến ngày nay. Chính quyền tỉnh Tiền Giang dự kiến đến năm 2025 thị xã Gò Công sẽ trở thành thành phố trực thuộc tỉnh.&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1976&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Cơ cấu hành chính ban đầu của Tiền Giang&lt;br /&gt;
|Tỉnh Tiền Giang có Thị xã Gò Công (đô thị Gò Công cũ) và huyện Gò Công (bao gồm phần đất còn lại).&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;Năm 1977&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Điều chỉnh hành chính cấp huyện&lt;br /&gt;
|Theo Quyết định số 77-CP, Thị xã Gò Công được chuyển thành Thị trấn Gò Công thuộc huyện Gò Công.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;Năm 1979&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Chia tách huyện Gò Công&lt;br /&gt;
|Huyện Gò Công được chia thành hai huyện mới: [[Huyện Gò Công Đông]] và [[Huyện Gò Công Tây]]. Thị trấn Gò Công lúc này thuộc huyện Gò Công Tây.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1987&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Tái lập Thị xã Gò Công&lt;br /&gt;
|Theo Quyết định số 37-QĐ/HĐBT ngày 16/2/1987 của Hội đồng Bộ trưởng, Thị xã Gò Công được tái lập trên cơ sở tách ra từ huyện Gò Công Tây (bao gồm cả thị trấn Gò Công và một số xã lân cận).&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1994&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Thành lập các phường mới&lt;br /&gt;
|Chính phủ ban hành Nghị định 69-CP (23/6/1994) thành lập Phường 3 và Phường 4 thuộc Thị xã Gò Công.&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Thành Phố Gò Công ====&lt;br /&gt;
19/3/2024 Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập [[Thành phố Gò Công]] trực thuộc tỉnh Tiền Giang, trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của Thị xã Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1/5/2024 Nghị quyết thành lập Thành phố Gò Công có hiệu lực. Gò Công chính thức trở thành thành phố thứ hai của tỉnh Tiền Giang (sau thành phố Mỹ Tho), với 10 đơn vị hành chính cấp xã (7 phường và 3 xã).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Sáp Nhập vào Đồng Tháp ====&lt;br /&gt;
1/7/2025 Thành phố Gò Công bị giải thể.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Gò Công được sắp xếp lại và trở thành các [[:Thể loại:Gò Công - Đồng Tháp|phường/xã trực thuộc tỉnh Đồng Tháp]] mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điều chỉnh cấp xã tại Gò Công: Theo Nghị quyết 1663/NQ-UBTVQH15 năm 2025 các đơn vị hành chính cấp xã của Gò Công giảm từ 10 xuống còn 4 đơn vị hành chính mới. &lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|Đơn vị Hành chính Mới&lt;br /&gt;
|Loại hình&lt;br /&gt;
|Cơ sở hình thành (ĐVHC cũ của Thành phố Gò Công)&lt;br /&gt;
|Diện tích (km²)&lt;br /&gt;
|Dân số (người)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Gò Công]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường 1, Phường 5, và Phường Long Hòa.&lt;br /&gt;
|10,06&lt;br /&gt;
|36.124&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Long Thuận]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường 2 và Phường Long Thuận.&lt;br /&gt;
|8,3&lt;br /&gt;
|29.715&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Bình Xuân]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường Long Chánh và Xã Bình Xuân.&lt;br /&gt;
|34,42&lt;br /&gt;
|32.052&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Sơn Qui]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường Long Hưng, Xã Tân Trung, và Xã Bình Đông.&lt;br /&gt;
|49,49&lt;br /&gt;
|48.590&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;Tóm tắt sự thay đổi:&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trước 1/5/2024 (Thị xã Gò Công): Có 10 đơn vị (5 phường, 5 xã, sau đó được sắp xếp còn 7 phường, 3 xã).&lt;br /&gt;
* Sau 1/5/2024 (Thành phố Gò Công): Có 10 đơn vị cấp xã.&lt;br /&gt;
* Sau 1/7/2025 (Khu vực Gò Công thuộc tỉnh Đồng Tháp mới): [[:Thể loại:Gò Công - Đồng Tháp|Khu vực Gò Công]] cũ được tinh gọn thành 4 phường mới, đều mang loại hình Phường (vì khu vực đô thị trung tâm được sắp xếp thành các phường).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Địa danh cũ trở thành khu vực: Khu vực đô thị Gò Công cũ chuyển từ cấp Thành phố/Thị xã thành các phường/xã trực thuộc tỉnh Đồng Tháp mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Tóm tắt về Gò Công|Xem tóm tắt các cột mốc]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Văn hóa ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Đình cổ Tân Đông - Gò Công since 1892.jpg|nhỏ|Đình cổ Tân Đông - 1892]]&lt;br /&gt;
Là vùng đất giàu truyền thống văn hóa Nam Bộ, mang dấu ấn giao thoa giữa văn hóa nông thôn đồng bằng sông Cửu Long và ảnh hưởng đô thị từ thời Pháp thuộc. Văn hóa Gò Công thể hiện qua nhiều mặt:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Lễ hội và tín ngưỡng: ===&lt;br /&gt;
* Người dân duy trì các lễ hội truyền thống gắn với nông nghiệp, như lễ cúng đất, lễ cầu mưa, lễ hội đình làng, lễ hội Kỳ yên...&lt;br /&gt;
* Thờ cúng các anh hùng dân tộc và các vị thần linh địa phương vẫn phổ biến, thể hiện sự tôn kính tổ tiên và gắn bó cộng đồng.&lt;br /&gt;
* Tôn giáo tại Gò Công: Tại Gò Công, các tôn giáo chính bao gồm Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam. Theo Niên giám thống kê Tiền Giang năm 2020, toàn tỉnh có 11 tôn giáo khác nhau, trong đó Phật giáo và Công giáo chiếm tỷ lệ lớn nhất.&lt;br /&gt;
* [[Tủ thờ Gò Công]] là một phần quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng và đời sống tinh thần của người dân địa phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Các lễ hội đặc trưng: ====&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Anh hùng dân tộc Trương Định.jpg|nhỏ|Anh hùng dân tộc Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Lễ giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Nghinh Ông]] - Vàm Láng (tổ chức tại [[Lăng ông|Lăng Ông Nam Hải]], Gò Công Đông)&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Kỳ Yên]] (hay Lễ Cầu An, tổ chức tại các Đình làng, tiêu biểu như Kỳ Yên Vĩnh Bình ở Gò Công Tây)&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Quan Thánh Đế Quân]] (hay Vía Quan Thánh/Vía Ông, tổ chức tại Chùa Ông - Miếu Quan Đế, Thị xã Gò Công)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Ngôn ngữ và văn học dân gian: ===&lt;br /&gt;
* Tiếng nói địa phương mang âm hưởng Nam Bộ với nhiều từ ngữ cổ, gần gũi với đời sống sông nước.&lt;br /&gt;
* Các hình thức văn học dân gian như ca dao, tục ngữ, truyện kể phản ánh nếp sống, đạo đức và kinh nghiệm lao động của cư dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Kiến trúc và nghệ thuật: ===&lt;br /&gt;
* Đình, chùa, nhà cổ Gò Công thường mang kiến trúc Nam Bộ điển hình, kết hợp yếu tố Pháp – Việt từ thời thuộc địa.&lt;br /&gt;
* Nghệ thuật dân gian như hát bội, cải lương, múa dân gian vẫn được gìn giữ trong các dịp lễ hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Đời sống cộng đồng: ===&lt;br /&gt;
* Gò Công là vùng đất nông nghiệp trù phú, nên đời sống cộng đồng mang tính gắn kết, hiếu khách và trọng lễ nghĩa.&lt;br /&gt;
* Truyền thống nghề thủ công như dệt chiếu, làm nón lá vẫn tồn tại ở một số làng nghề.&lt;br /&gt;
== Con người ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Chan-dung-0-4851-1721729554.jpg|nhỏ|[[Nam Phương Hoàng hậu|Nam Hương(Phương) Hoàng Hậu]]]]&lt;br /&gt;
Nơi đây có truyền thống học hành, nhiều người đỗ đạt cao trong các kỳ thi xưa rồi làm quan dưới các triều vua nhà Nguyễn. Ông [[Phạm Đăng Hưng]] đã từng làm quan Thượng thư dưới 3 triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Con gái ông là bà [[Từ Dụ Thái hậu|Phạm Thị Hằng]] là vợ vua Thiệu Trị, là mẹ vua Tự Đức tức [[Từ Dụ Thái hậu|Thái hậu Từ Dũ]] nổi tiếng trong lịch sử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công cũng là đất của hoàng hậu&amp;lt;ref&amp;gt;Tìm hiểu thêm: https://gocong.org/search/#gsc.tab=0&amp;amp;gsc.q=ho%C3%A0ng%20h%E1%BA%ADu&amp;amp;gsc.sort=&amp;lt;/ref&amp;gt;, người phụ nữ xứ này hãnh diện với tên gọi “Gò Công nhan sắc”; và Gò Công nổi tiếng với những nghệ nhân khéo tay, sáng tạo làm nên “cái tủ thờ” có giá trị văn hóa nghệ thuật mang tầm cỡ quốc gia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Giáo dục - Y tế ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Giáo dục ===&lt;br /&gt;
Thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: Gò Công nổi bật với phong trào [[:Thể loại:Giáo dục|văn hóa và giáo dục]]. Nhiều tác phẩm văn học quốc ngữ đầu tiên được xuất bản tại đây, như &#039;&#039;Việt âm văn uyển&#039;&#039; (1911). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay: Gò Công có hệ thống giáo dục đa dạng, từ mầm non đến trung cấp. Trường Trung cấp Gò Công cung cấp các ngành nghề như cơ khí, điện – điện tử, kế toán và dịch vụ. Ngoài ra, các nhóm trẻ cũng đóng góp vào việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Y tế ===&lt;br /&gt;
Trước năm 1975, Gò Công là một trong những trung tâm y tế quan trọng của miền Nam. Nơi đây có Bệnh viện Gò Công với quy mô lớn, phục vụ cho cả khu vực Gò Công và các huyện lân cận. Ngoài ra, các trạm y tế xã và đội ngũ y tế cơ sở cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Gò Công, trận dịch kinh hoàng nhất xảy ra hồi năm 1905. Dịch tả xảy ra sau trận bão, có khoảng 50% dân số ở đây được ghi nhận là đã chết trong trận dịch này.  &amp;lt;ref&amp;gt;Theo Việt Cúc trong Gò Công cảnh cũ người xưa ghi lại:“ Mầm thời khí phát lên rồi mới bôn ba cứu chữa thì quá muộn. Phần đông dân chúng thuở ấy còn mê tín, chỉ cầu khẩn khấn vái tống ôn, không biết đến thuốc men, giữ vệ sinh. Người chết rất nhiều....Có gia đình nội trong 10 ngày chết 3 người. Có nhà thì đứa em chết sớm mai, chiều tối đứa chị chết.....Chết nhiều đến nỗi thiếu hòm, thiếu ván để đóng quách mà chôn....”&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Y tế Gò Công hiện nay đã có sự phát triển mạnh mẽ, với hệ thống cơ sở y tế đa dạng và chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao. Người dân Gò Công và các khu vực lân cận có thể tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao.[[Tập tin:6329-4-Vietnamese-scaled.jpg|nhỏ|Gò Công Map]]&lt;br /&gt;
== Kinh tế ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời kỳ trước năm 1975 ===&lt;br /&gt;
Thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: Gò Công là một trong những trung tâm kinh tế, hành chính và văn hóa quan trọng của miền Nam. Sau năm 1862, làng Thuận Tắc trở thành trung tâm kinh tế, hành chính của chính quyền thuộc địa, với sự hình thành chợ Gò Công sầm uất nhất vùng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Nông nghiệp: Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa, cây ăn trái và thủy sản.&lt;br /&gt;
* Thủ công nghiệp: Phát triển các nghề thủ công như dệt chiếu, đan lát, làm gạch ngói, cung cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài vùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau 1975 ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Công nghiệp: Phát triển các khu công nghiệp như [[Khu công nghiệp dịch vụ dầu khí Soài Rạp|Khu công nghiệp Dịch vụ dầu khí Soài Rạp]], Khu công nghiệp Bình Đông, Khu công nghiệp Phú Tân, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.&lt;br /&gt;
* Nông nghiệp: Đẩy mạnh sản xuất nông sản chất lượng cao, ứng dụng công nghệ cao vào trồng trọt và chăn nuôi.&lt;br /&gt;
* Kinh tế biển: Gò Công Đông xác định kinh tế biển là hướng phát triển chủ đạo, với trọng tâm hoàn thiện hạ tầng đồng bộ phục vụ kinh tế - xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Giao thông ==&lt;br /&gt;
Trước năm 1975, giao thông Gò Công chủ yếu dựa vào đường thủy với hệ thống sông, rạch chằng chịt. Việc đi lại giữa Gò Công và Sài Gòn khi đó phần lớn qua [[phà Mỹ Lợi]] bắc ngang sông Vàm Cỏ. Tuyến phà này là cửa ngõ quan trọng nối liền Gò Công – Tân Hòa với quốc lộ 50, đồng thời là tuyến huyết mạch để vận chuyển hàng hóa, nông sản và hành khách giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau năm 1975, [[:Thể loại:Đường Sá|hệ thống giao thông Gò Công]] được cải thiện đáng kể. Quốc lộ 50 được mở rộng, nối thông đến Thành phố Hồ Chí Minh; [[cầu Mỹ Lợi]] được khánh thành năm 2015 thay thế phà cùng tên, tạo thuận lợi lớn cho việc giao thương. Ngoài ra, các tuyến đường tỉnh và liên huyện được nâng cấp, giúp Gò Công kết nối nhanh hơn với Mỹ Tho, Gò Công Đông, Gò Công Tây và vùng ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tên đường ở thành phố Gò Công trước năm 1975 ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Đường Phạm Đăng Hưng]] (cũ) nay là [[đường Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Võ Tánh]] nay là [[đường Rạch Gầm]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Phan Thanh Giản]] nay là [[đường Lê Thị Hồng Gấm]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Tân Hội]] và [[Đường Nguyễn Trãi|Nguyễn Trãi]] nay là [[đường Phan Chu Trinh]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Lý Thường Kiệt]] nay là [[đường Phan Đình Phùng]]&lt;br /&gt;
* [[Cụm đường Huyện Nguơn, Chủ Sự Thiều, Tổng Thư, Đồ Chiểu|Đường Huyện Nguơn, Chủ Sự Thiều, Tổng Thư và Đồ Chiểu]] nay là [[đường Nguyễn Huệ]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Huyện Tri]] nay là [[đường Võ Duy Linh]]&lt;br /&gt;
* Đường Hai Bà Trưng, Duy Tân và Tổng Đốc Phương nay là [[đường Hai Bà Trưng]]&lt;br /&gt;
* Đường Joffre, Thái Lập Thành, [[Đường Hộ Mưu|Hộ Mưu]] nay là [[đường Nguyễn Văn Côn]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Thái Học]] nay là [[đường Thủ Khoa Huân]]&lt;br /&gt;
* Đường Phan Đình Phùng, Phan Châu Trinh nay là đường Nguyễn Trãi&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Văn Thinh]] nay là [[Quốc lộ 50]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Từ Dũ]] nay là [[đường Lý Tự Trọng]]&lt;br /&gt;
* Đường Hàm Nghi và [[Đường Lê Văn Duyệt|Lê Văn Duyệt]] nay là [[đường Lưu Thị Dung]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Gia Long]] và [[Đường Trần Hưng Đạo|Trần Hưng Đạo]] nay là đường Trần Hưng Đạo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Những con đường mất hẳn do quy hoạch ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Đường Đốc Phủ Vinh]]&lt;br /&gt;
* [[Hẻm số 13]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Trịnh Hoài Đức]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Paulus Của]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Công Trứ]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Du]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Cả]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Pétrus Ký]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Địa Lý ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Gò Công ngập trong biển nước – Ảnh- tư liệu.jpg|nhỏ|Bão năm Giáp Thìn]]&lt;br /&gt;
Gò Công là một vùng đất thuộc tỉnh Tiền Giang, nằm ở phía Đông Nam của Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đất này có bờ biển dài hơn 32 km, giáp Biển Đông và nằm giữa các cửa sông lớn như Soài Rạp, Cửa Tiểu và Cửa Đại. Vị trí này rất thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Khí hậu ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình khoảng 27–27,9°C, lượng mưa trung bình từ 1.210 đến 1.424 mm/năm, giảm dần từ Bắc vào Nam&lt;br /&gt;
* Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 11, nhiệt độ cao và ẩm ướt, lượng mưa tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp và sinh thái.&lt;br /&gt;
Trận [[Bão năm Thìn|bão năm Giáp Thìn]] xảy ra vào ngày 1-5-1904, nhằm ngày 16-3 âm lịch, gây thiệt hại hầu hết các tỉnh ở Nam bộ. Trong đó, thiệt hại nặng nề nhất là Gò Công và vùng phụ cận, với trên 60% nhà bị sập đổ, 5.000 người chết trôi, 80% gia súc bị chết… Còn theo dân gian, truyền miệng qua thơ, vè, thì số người chết khoảng “một muôn hai” (tức khoảng 12.000 người).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sinh thái ===&lt;br /&gt;
Gò Công có hệ sinh thái phong phú, đặc biệt là hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển. Rừng ngập mặn tại các xã như Tân Thành và Vàm Láng có diện tích khoảng 1.210 ha, bao gồm cả rừng phòng hộ và bãi bồi ven biển. Hệ sinh thái này không chỉ là nơi sinh sống của nhiều loài động, thực vật, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển và phát triển du lịch sinh thái.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với bờ biển dài và hệ thống sông ngòi chằng chịt, Gò Công có tiềm năng lớn trong nuôi trồng và khai thác thủy sản. Các loài thủy sản nước lợ như tôm, cua, cá, sò, nghêu... có trữ lượng hàng năm ước tính khoảng 156.000 tấn tại các vùng cửa sông. Kinh tế biển không chỉ đóng góp vào thu nhập của người dân mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm và phát triển bền vững cho địa phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm Ất Tỵ (năm 1905), Gò Công bị nạn “[[Hoàng Trùng|hoàng trùng]]” (giặc châu chấu) phá hoại mùa màng khoảng gần nửa tháng, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp rất nặng nề. Người ta cho rằng, loài châu chấu này từ châu Phi tràn đến, chúng bay rợp trời, có đến hàng mấy triệu con mỗi đàn, đậu đáp ở đâu thì chỗ đó cây cỏ “trơ xương”, trụi lá. Năm sau thì bị nạn “[[Bạch Đồng|bạch đồng]]”. Suốt từ tháng 6 âm lịch đến tháng 10 năm Bính Ngọ (năm 1906) trời trong xanh, không có lấy một giọt mưa. Ban đêm sao sáng đầy trời. Khô hạn nhằm vào lúc nông dân sửa soạn làm lễ hạ điền, xuống giống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Du lịch ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Image-74.jpg|nhỏ|[[Dinh Chánh Tham Biện Gò Công]]]]&lt;br /&gt;
Gò Công đang phát triển du lịch sinh thái biển, kết hợp với văn hóa, lịch sử của vùng đất. Các điểm du lịch như Khu du lịch biển Tân Thành, vườn táo, di tích lịch sử cấp quốc gia và các cù lao ven biển thu hút du khách trong và ngoài tỉnh. Việc phát triển du lịch sinh thái không chỉ bảo tồn giá trị tự nhiên mà còn nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công có nhiều địa điểm du lịch văn hóa và sinh thái nổi bật, bao gồm: [[Dinh Đốc phủ Hải]] (Nhà Đốc Phủ Hải), [[Khu du lịch biển Tân Thành|Biển Tân Thành]] (Biển Gò Công), [[Đình Trung]], [[Lăng Hoàng Gia]] ([[Phạm Đăng Hưng|Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng]]), [[Đền thờ Trương Định|Đền thờ]] và [[Lăng mộ Trương Định|Lăng mộ]] anh hùng dân tộc [[Trương Định]], [[Mộ Bát Lăng]], [[Đình Tân Đông]] ([[Đình Gò Táo]]), [[Dinh Tỉnh Trưởng]] Gò Công, [[Khu du lịch sinh thái Làng Yến]], [[Khu mộ Đá Ong (Khu mộ Bà Tương)]], [[Miếu Võ Quốc Công|miếu thờ Võ Tánh]]...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Đặc sản - Ẩm thực ==&lt;br /&gt;
Gò Công là vùng đất nổi tiếng với nhiều đặc sản mang đậm hương vị Nam Bộ. Trong đó, sơ ri Gò Công và mắm Gò Công là hai sản vật tiêu biểu gắn liền với đời sống và văn hóa ẩm thực địa phương. [[Sơ ri Gò Công]] được trồng chủ yếu ở xã Tân Trung, Bình Xuân và phường 2, thị xã Gò Công, nổi tiếng nhờ trái nhỏ, vỏ mỏng, vị ngọt thanh và giàu vitamin C. Giống sơ ri này đã trở thành thương hiệu đặc trưng của vùng đất Gò Công ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Mắm Gò Công]] có nhiều loại như mắm tôm chua, mắm cá linh, mắm cá sặc... được chế biến theo phương pháp truyền thống, giữ nguyên hương vị mặn mòi của biển và đồng ruộng. Mắm Gò Công không chỉ là món ăn dân dã trong bữa cơm Nam Bộ mà còn là đặc sản được du khách tìm mua làm quà. [[Sam biển Gò Công]], [[Nghêu Gò Công]] là một loại hải sản đặc sản nổi bật ở vùng biển xã Vàm Láng, Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. [[Bánh giá Gò Công|Bánh vá]], còn gọi bánh giá, là món ăn đặc sản chỉ thấy ở Gò Công (Tiền Giang), đặc biệt nổi tiếng tại Chợ Giồng (Gò Công Tây).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đặc sản khác: [[Vọp Gò Công]], [[Nham Gò Công]], [[Hủ tíu Gò Công]], [[Tôm xe cán]], [[Bông lục bình]], [[Cá bống dừa]], [[Gỏi Nham Gò Công]], [[Dưa hấu Gò Công]], [[Chè Sơn Qui]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Văn chương - Thơ ca&amp;lt;ref&amp;gt;Tham khảo https://ca-dao.com/&amp;lt;/ref&amp;gt; ==&lt;br /&gt;
Gò Công cũng có nhiều cây bút Hán Nôm khá nổi tiếng như Tú tài [[Trần Văn Hội]] (Tú Hội), [[Trần Quang Hùng]] (Chủ Hùng), [[Ông Chủ Sự Thiều|Trần Đình Thiều]] (Chủ sự Thiều), [[Huỳnh Đình Nguơn|Huỳnh Đình Ngươn]]... Một số bài thơ Nôm của Huỳnh Đình Ngươn hiện còn được lưu giữ là [[Bóng người|Bóng người,]] [[Uống rượu say]], Cọp vẽ, [[Đi xe lửa]], Ngựa sút chuồng bị phạt, đặc biệt là bài cửu thủ liên hoàn Du hoạn ư Tho giang cảm tác... Khi ông mất, 20 năm sau, Lê Sum đã phiên âm bài nầy ra chữ quốc ngữ và in trong Việt âm Văn uyển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây cũng là quê hương của nữ thi sĩ [[Nguyễn Thị Kiêm|Lê Thị Kim]] (nữ sĩ [[Nguyễn Thị Manh Manh|Manh Manh]]) và [[Phan Thị Bạch Vân]], chủ nhân Nữ lưu thơ quán Gò Công.  &lt;br /&gt;
=== Thơ về Gò Công&amp;lt;ref&amp;gt;Thơ về Gò Công https://gocong.org/book/tuyen-tap-tho-go-cong/&amp;lt;/ref&amp;gt; ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca ====&lt;br /&gt;
Gò Công cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều thi sĩ. Nhà thơ Nguyễn Liên Phong đã viết trong [[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca]]:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Thanh lịch Gò-công xứ biết chơi,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Địa linh nhơn kiệt quả như lời.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Vỏ-công hùng cứ bia ngàn thuở,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Phạm-Tộc phủ thờ quới một nơi.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Phát trước nhiều ông danh tiếng rạng,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Nối sau chán kẻ hiển vinh đời.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Năm thìn ruổi mắc cơn giông bão,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Dựng lại bằng xưa cũng phước trời.&lt;br /&gt;
[[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca|Đọc thêm]]&amp;lt;/blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Kỷ niệm Gò Công ====&lt;br /&gt;
Bài thơ này ca ngợi vẻ đẹp thanh lịch và truyền thống văn hóa của Gò Công. Ngoài ra, nhà thơ Bùi Giáng trong bài &amp;quot;[[Kỷ niệm Gò Công (Bùi Giáng)|Kỷ niệm Gò Công]]&amp;quot; cũng đã viết:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Bên vườn ngày ấy có mai&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nở hoa bên trúc một ngày đầu xuân&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ấy ngày tôi đến Gò Công&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ba mươi năm vẫn còn mong trở về&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Về xem trở lại sơn khê&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò Công còn có như ngày đầu tiên&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Bên vườn còn bóng thuyền quyên?&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Đi về phảng phất thần tiên điệu đàn&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Về sau bỗng gặp muôn vàn&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Giấc trưa giờ ngọ một nàng Tiên Ngâu&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nàng tiên ấy đã đi đâu&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Hay còn lẩn quất giữa màu lá cây?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Kỷ niệm Gò Công (Bùi Giáng)|Đọc thêm]]&lt;br /&gt;
&amp;lt;/blockquote&amp;gt;Bài thơ này thể hiện nỗi nhớ và tình cảm sâu sắc của tác giả đối với Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Hồn đất Gò Công ====&lt;br /&gt;
Bài thơ viết về những tên gọi Gò Công theo thời gian&amp;lt;ref&amp;gt;Bài “Hồn đất Gò Công” là một trường ca địa – sử – văn hóa, viết theo lối biên niên bằng thơ, kết hợp giữa địa chí, sử ký và cảm thức thi ca. Bài thơ nhằm ghi lại lịch sử tên gọi và thân phận hành chính của đất Gò Công qua các thời kỳ, nhưng không viết bằng văn xuôi khô cứng mà bằng hồn thơ địa linh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây không chỉ là bài thơ “kể tên”, mà là bản tuyên ngôn mềm về căn tính Gò Công.&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò Công, vùng đất tứ linh;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Cánh chim nhạn trắng, đượm tình biển khơi.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Mênh mang sóng vỗ muôn đời;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gió đưa gió đẩy, về nơi ăn còng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khổng Tước Nguyên, thuở sơ phong;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò cao rợp bóng chim Công lượn vòng.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Rừng xanh cây trái đơm bông;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Dấu xưa ghi tạc giữa lòng núi sông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngược dòng lịch sử ghi lòng;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Lôi Lạp thuở ấy, khơi dòng khởi nguyên.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Tên xưa phủ cũ, lưu truyền;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Vạn trường khuất nẻo, biến thiên đổi dời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Hồn đất Gò Công|Đọc thêm]]&amp;lt;/blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Ca dao ===&lt;br /&gt;
Một trong những câu ca dao nổi tiếng về Gò Công là:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&amp;quot;Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,&amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gió nào độc bằng gió Gò Công.&amp;quot;&amp;lt;/blockquote&amp;gt;Câu ca dao này không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của Gò Công mà còn phản ánh sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Có đứa nào xạo bằng thằng Út Gò Công&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh đi đóng đáy Bãi Ngang&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ngó qua Láng Lộc thấy nàng lượm tôm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai về Tân Phước Rạch Già&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gởi con cá lóc hái cà nấu canh&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh đi chuyến gạo Gò Công,&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Anh về Bao Ngược&amp;lt;ref&amp;gt;&#039;&#039;Vàm Bao Ngược: Tên cửa sông tiếp giáp giữa sông Vàm Cỏ và sông Soài Rạp, thuộc địa phận huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Lòng sông ở đây sâu, nước chảy mạnh, thường có sóng to gió lớn, nên trước đây thường xảy ra tai nạn đắm thuyền.&#039;&#039;&amp;lt;/ref&amp;gt;, bị giông đứt buồm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh ơi về tới Gò Công&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nhớ mua bánh giá chợ Giồng tặng em&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây cũng là quê hương của nhà văn [[Hồ Biểu Chánh]], nhà văn Sơn Vương... Trong những năm 1925-1930, tại đây đã có Nhà xuất bản Nữ lưu thơ quán của [[Phan Thị Bạch Vân]] nổi tiếng toàn quốc, tập hợp nhiều cây bút tiến bộ đương thời cổ động cho nữ giới mở mang học vấn và bảo vệ luân lý đạo đức.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Âm Nhạc ==&lt;br /&gt;
[[File:Mẹ Gò Công - Bảo Yến.mp4|thumb|400px|Mẹ Gò Công - Bảo Yến - [[:Thể loại:Nhạc Gò Công|Nhạc Gò Công]]]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vùng đất Gò Công là nơi sản sinh ra nhiều nhạc sĩ tài năng, góp phần làm phong phú nền âm nhạc trữ tình Việt Nam, đặc biệt là dòng nhạc quê hương, tiền chiến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai tên tuổi tiêu biểu là nhạc sĩ [[Lê Dinh]] và [[Hoàng Phương]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Lê Dinh]] (1934 – 2020), thành viên của nhóm Lê Minh Bằng nổi tiếng, là tác giả của nhiều ca khúc được yêu mến như &#039;&#039;Tình yêu trả lại trăng sao&#039;&#039;, &#039;&#039;Bảo Tố&#039;&#039;, và là người thầy dạy nhạc cho nhạc sĩ Hoàng Phương.&lt;br /&gt;
* [[Hoàng Phương]] (1943 – 2002) được mệnh danh là &amp;quot;Ông hoàng nhạc Gò Công&amp;quot; với những sáng tác mang âm hưởng dân ca, trữ tình sâu lắng. Tác phẩm nổi bật nhất của ông là &amp;quot;Hoa sứ nhà nàng&amp;quot; (&#039;&#039;Hoa sứ nhà em&#039;&#039;) đã &amp;quot;làm mưa làm gió&amp;quot; khắp nơi, cùng với &amp;quot;[[Mẹ Gò Công]]&amp;quot;, &amp;quot;[[Chuyện tình hoa muống biển]]&amp;quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tác phẩm của những nhạc sĩ Gò Công, đặc biệt là nhạc của Hoàng Phương, đã được nhiều ca sĩ tên tuổi thể hiện thành công, trong đó có Bảo Yến (người đã góp phần làm nên tên tuổi cho băng nhạc Gò Công nổi tiếng thập niên 1980) và Phương Dung.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những sản phẩm độc đáo của vùng Gò Công như: điệu [[Lý Con Sáo Gò Công|lý con sáo Gò Công]], vẫn còn được lưu giữ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Ghi chú ==&lt;br /&gt;
&amp;lt;references /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tài liệu tham khảo ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Việt Cúc: [[Gò Công cảnh cũ người xưa]], Tự xuất bản 1969&lt;br /&gt;
* Girmeld Monographie de province de Go Cong 1936, Tham biện Chủ tỉnh Gò Công, Người dịch: Huỳnh Văn Phát.&lt;br /&gt;
* Huỳnh Minh: [[Gò Công xưa|Gò Công xưa và nay]], NXB Cánh Bằng, 1969.&lt;br /&gt;
* Gia phả họ Trần (bản chữ Quốc ngữ), Gia pháp gia đình họ Trần – Gò Công (họ Trần của bà Trần Thị Sanh, người vợ thứ của Trương Định)&lt;br /&gt;
* [[Gia Định Thành Thông Chí|Gia Định thành thông chí]] (嘉定城通志) hay &#039;&#039;Gia Định thông chí&#039;&#039; (嘉定通志) là một quyển địa chí của Trịnh Hoài Đức (1765-1825) viết về miền đất Gia Định bằng chữ Nho và chữ Nôm, là một sử liệu quan trọng về Nam Bộ thời nhà Nguyễn.&lt;br /&gt;
* [[Nam Kỳ Và Cư Dân Các Tỉnh Miền Đông|Nam kỳ và cư dân: Các tỉnh miền Đông]] - J. C. Baurac&lt;br /&gt;
* [[South Vietnam]] - Official Standard Names Approved by the United States Board on Geographic Names, 1971&lt;br /&gt;
* [[Địa chí Tiền Giang]] - Trần Hoàng Diệu, Nguyễn Anh Tuấn, 2005&lt;br /&gt;
* [[Tự vị tiếng nói miền Nam]] - Vương Hồng Sến, 1998&lt;br /&gt;
* [[Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ]] - Nguyễn Đình Tư, 2008&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Vọng Tiếng Đất Lành]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Lặng Thầm Hương Sắc]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Thao Thức Dấu Xưa]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Từ Làng Thành Phố]] - Phan Thanh Sắc, 2022&lt;br /&gt;
* [[Địa Phương Chí và Luật Đường Bộ tỉnh Gò Công đầu thế kỷ XX]] - Võ Văn Hải, 2025&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thống kê ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;p&amp;gt;Chúng ta có khoảng &#039;&#039;&#039;{{NUMBEROFPAGES}}&#039;&#039;&#039; trang nội dung các loại&amp;lt;/p&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;Mời đóng góp:&#039;&#039;&#039; [[Đặc biệt:Trang cần thiết|Trang cần viết]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Trang nầy có một số thông tin ngắn gọn (ví dụ như tiểu sử [[Nam Phương Hoàng hậu]]). Vì vậy hãy tìm thêm trên trang chính https://gocong.org/ để xem những bài viết dài, phân tích chi tiết hơn.&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;div style=&amp;quot;background: aliceblue;padding: 15px;border: 1px solid #4054af;border-radius: 3px;color:#ed5381; margin-bottom:15px&amp;quot;&amp;gt;&#039;&#039;Tờ Hà Thành Ngọ Báo số ra ngày 11 tháng 06 năm 1934 trong mục Tin Kinh đô đã thông tin về việc Hoàng đế Bảo Đại cải chính danh hiệu của Nam Phương Hoàng hậu.&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Theo bài báo, ban đầu Hoàng đế Bảo Đại đã hạ chỉ dụ đặt danh hiệu là NAM HƯƠNG HOÀNG HẬU với ý nghĩa “Hương thơm từ phương Nam” (Parfum du Sud – 南香皇后). Tuy nhiên khi một viên Chấp sự trong Nội các ghi lại bằng chữ quốc ngữ đã chép nhầm chữ HƯƠNG thành chữ PHƯƠNG, và từ đó cái tên NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU đã được sử dụng cho đến nay dù danh hiệu này… sai so với ý gốc của Hoàng đế?&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Tên theo Việt ngữ của Hoàng Hậu là Nguyễn Thị Lan chứ không phải Nguyễn Hữu Thị Lan. Trường hợp Nguyễn Hữu này cũng tương đồng với trường hợp Ngô Đình sau này. Hậu thế chỉ vì muốn&#039;&#039; &#039;&#039;ca tụng cá nhân nên tự ý thêm chữ này chữ kia vào danh tính cho ra vẻ sang cả quý phái, trái với sự thực trong lịch sử. Làm gì có Nguyễn Hữu Thị Lan?&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&amp;lt;/div&amp;gt;&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Trang_Ch%C3%ADnh&amp;diff=3009</id>
		<title>Trang Chính</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Trang_Ch%C3%ADnh&amp;diff=3009"/>
		<updated>2026-09-10T18:46:20Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: /* Thống kê */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;big&amp;gt;&#039;&#039;&#039;Gò Công - Bách khoa toàn thư&#039;&#039;&#039;&amp;lt;/big&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Gcoongorgg.jpg|nhỏ|Logo: Nguyen Pham]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Thanh lịch [[Gò Công]] xứ biết chơi,&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;[[Địa linh nhân kiệt|Địa linh nhơn kiệt]] quả như lời.&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Võ công hùng cứ bia ngàn thuở,&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Phạm tộc phủ thờ quới một nơi.&#039;&#039;&amp;lt;ref&amp;gt;[[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca]]&amp;lt;/ref&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công là tỉnh cũ ([[Tỉnh Gò Công]]) ở miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long), Việt Nam. Tỉnh này được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1900, tồn tại vào [[thời Pháp thuộc]] và bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể vào cuối năm 1956. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, sau đó tỉnh Gò Công lại được chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập vào năm 1963, tiếp tục tồn tại và bị mất tên gọi đơn vị hành chính cấp tỉnh từ tháng 2 năm 1976 cho đến 2025 thì bị sáp nhập vào tỉnh Đồng Tháp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tên gọi ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về các tên cũ của vùng đất Gò Công trong lịch sử, nó đã trải qua một số tên gọi và cách gọi khác nhau tùy theo thời kỳ và cách tổ chức hành chính:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable sortable hometable&amp;quot; style=&amp;quot;float:right; max-width:450px;&amp;quot;&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Gò Công&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tra cứu địa điểm Gò Công&lt;br /&gt;
|https://diadiemgocong.com&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Địa lý&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |&#039;&#039;&#039;Tọa độ:&#039;&#039;&#039; 10°22′B 106°40′Đ / 10,36°B 106,66°Đ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Diện tích&lt;br /&gt;
|102,36 km²&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Dân số (2022)&lt;br /&gt;
|151.937 người&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Mật độ&lt;br /&gt;
|1.4843 người/km²&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Dân tộc&lt;br /&gt;
|Chủ yếu là Kinh và Hoa&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Hành chính&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Quốc gia&lt;br /&gt;
|Việt Nam&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Vùng&lt;br /&gt;
|Tây Nam Bộ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Thành lập&lt;br /&gt;
|16/2/1987&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tên gọi&lt;br /&gt;
|Các giả thuyết về [[tên gọi Gò Công]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Bản đồ&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
* [[Bản đồ Gò Công]]&lt;br /&gt;
* [[Thành phố Gò Công]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Khu vực&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công|Vùng Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Lôi Lạp]]&lt;br /&gt;
** [[Huyện Tân Hòa]]&lt;br /&gt;
** [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi]]&lt;br /&gt;
** [[Làng Thành Phố]]&lt;br /&gt;
** [[Tỉnh Gò Công]] ([[Tỉnh Gò Công 1900-1913; 1924-1954|1900-1913; 1924-1954,]] [[Tỉnh Gò Công 1968-1975|1968-1975]], [[Tỉnh Gò Công 1954-1956; 1963-1975|1954-1956; 1963-1975]], [[Quận Gò Công]])&lt;br /&gt;
** [[Thị trấn Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Thị xã Gò Công]] ([[Thị xã Gò Công 2020|2020]])&lt;br /&gt;
** [[Thành phố Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Phường Gò Công]]&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công Đông|Vùng Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
** [[Gò Công Đông|Huyện Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công Tây|Vùng Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
** [[Gò Công Tây|Huyện Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
*[[:Thể loại:Tân Phú Đông|Vùng Tân Phú Đông]]&lt;br /&gt;
**[[Huyện Tân Phú Đông]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Thơ ca - Nghệ thuật&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Ca dao|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Ca dao&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Nhạc Gò Công|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Nhạc Gò Công&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Văn thơ về Gò Công|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Văn thơ về Gò Công&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Văn hóa - Lễ hội&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Văn hóa|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Văn hóa&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Từ địa phương&lt;br /&gt;
| [[:Thể loại:Phương ngữ|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Phương ngữ&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tên gọi - Địa Danh&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Danh xưng|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Danh xưng&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Địa lý|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Địa lý&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Đặc sản - Làng nghề&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Đặc sản|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Đặc sản&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Sản phẩm truyền thống|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Sản phẩm truyền thống&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Khảo cứu&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Tiểu sử|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Tiểu sử&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Tài liệu|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Tài liệu&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Hình ảnh|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Hình ảnh&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Chuyện xưa, Tích cũ|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Chuyện xưa, Tích cũ&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Giao thông - Vị trí&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Đường Sá|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Đường Sá&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Giáo dục|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Giáo dục&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Nhóm Facebook&lt;br /&gt;
|https://www.facebook.com/groups/gocong&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Lôi Lạp]]&amp;lt;ref&amp;gt;Lôi Lạp (雷巤) chính là một tên gọi cũ, mang tính lịch sử của vùng đất Gò Công ngày nay (thuộc tỉnh Tiền Giang).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo các tài liệu lịch sử và địa chí:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vùng đất Lôi Lạp xưa được nhắc đến vào khoảng năm 1757, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lôi Lạp (雷巤) là tên gọi ban đầu của vùng bán đảo Gò Công hiện tại.&amp;lt;/ref&amp;gt; (雷巤): Đây là tên gọi của vùng đất này khi nó còn là một phủ của vương triều Khmer (Chân Lạp) trước năm 1757.&lt;br /&gt;
* [[Huyện Tân Hòa]]: Sau khi được Chúa Nguyễn tiếp quản, vùng Gò Công là một phần của huyện Tân Hòa, thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định. Lúc này, “Gò Công” chỉ là tên của nơi đặt lỵ sở (trung tâm hành chính) của huyện Tân Hòa.&lt;br /&gt;
* [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi]]: Vào thời vua Gia Long (đầu thế kỷ 19), trung tâm thị xã Gò Công ngày nay là hai thôn nhỏ này.&lt;br /&gt;
* [[Làng Thành Phố]]: Đến năm 1885, hai làng Thuận Tắc và Thuận Ngãi được sáp nhập và đổi tên thành “làng Thành Phố”. Đây là một cái tên khá độc đáo và có ý nghĩa quan trọng, cho thấy đây là một đô thị sớm phát triển ở Nam Kỳ.&amp;lt;ref&amp;gt;Gò Công – Bí ẩn Làng thành phố đầu tiên của lục tỉnh – Kỳ 1: Tìm lại dấu xưa Làng thành phố https://gocong.org/go-cong-bi-an-lang-thanh-pho-dau-tien-cua-luc-tinh-ky-1-tim-lai-dau-xua-lang-thanh-pho/&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bóng hình làng Thành Phố https://gocong.org/go-cong-bi-an-lang-thanh-pho-dau-tien-cua-luc-tinh-ky-1-tim-lai-dau-xua-lang-thanh-pho/ &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Pháp lập làng thành phố làm Tỉnh lỵ Gò Công https://gocong.org/phap-lap-lang-thanh-pho-lam-tinh-ly-go-cong/&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* [[Tỉnh Gò Công]]: Trong một số giai đoạn dưới thời Pháp thuộc và thời Việt Nam Cộng hòa, Gò Công được nâng lên thành một tỉnh riêng biệt, với tỉnh lỵ đặt tại làng Thành Phố (sau là [[xã Long Thuận]]).&lt;br /&gt;
* [[Thị xã Gò Công]]: Sau năm 1975, khi các tỉnh sáp nhập để thành lập tỉnh Tiền Giang, Gò Công trở thành thị xã thuộc tỉnh Tiền Giang. Thậm chí có một giai đoạn ngắn (năm 1977-1979), thị xã Gò Công còn bị hạ cấp thành thị trấn Gò Công thuộc huyện Gò Công.&lt;br /&gt;
* [[Thành phố Gò Công]]: Kể từ ngày 1 tháng 5 năm 2024, Thị xã Gò Công đã chính thức được công nhận là Thành phố Gò Công trực thuộc tỉnh Tiền Giang.&lt;br /&gt;
Tên gọi Gò Công còn chỉ:&lt;br /&gt;
* Huyện [[Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
* Huyện [[Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
* Tỉnh cũ Gò Công, tồn tại trong hai giai đoạn 1900-1956 và 1963-1976; nay là một phần tỉnh Tiền Giang&lt;br /&gt;
* Huyện cũ Gò Công, ban đầu thuộc tỉnh tỉnh Mỹ Tho và sau đó thuộc Tiền Giang cho đến năm 1979; tương ứng với địa bàn [[thành phố Gò Công]], Gò Công Đông, Gò Công Tây và [[Tân Phú Đông]] thuộc tỉnh Tiền Giang&lt;br /&gt;
* [[Thị trấn Gò Công|Thị trấn cũ Gò Công]] thuộc huyện Gò Công, tồn tại từ 1977 đến 1987; tương ứng với phường 1 và phường 2 thuộc thành phố Gò Công&lt;br /&gt;
* Địa danh cũ Gò Công thuộc [[tổng Long Vĩnh Hạ]], huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa xưa; nay thuộc phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức.&lt;br /&gt;
[[Tập tin:1881.jpg|nhỏ|Bản đồ Gò Công 1881]]&lt;br /&gt;
=== Thời nhà Nguyễn và đầu thời Pháp thuộc ===&lt;br /&gt;
Chúa Nguyễn Ánh sau khi chạy sang Xiêm, vào năm Đinh-Vị 1787 kéo quân trở về và qua vùng Gò Công (lúc đó thuộc huyện Tân-Hòa, tỉnh Định Tường), ông tiến hành củng cố quyền lực Nam Kỳ. [[Gò Công Được Lập Nền Hành Chánh]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công thuộc huyện [[Tân Hòa]], phủ [[Tân An]], tỉnh [[Gia Định]]. Năm 1885, người Pháp gọi vùng đất này là &amp;quot;[[Làng thành phố]]&amp;quot;, đô thị đầu tiên mang tên thành phố của Nam Kỳ Lục tỉnh, là sự hợp nhất của hai làng [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi|Thuận Tắc và Thuận Ngãi]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Pháp thuộc ===&lt;br /&gt;
Năm 1876 Gò Công, vốn trước kia thuộc tỉnh [[Định Tường]] thời “[[Nam Kỳ Lục Tỉnh|Nam Kỳ lục tỉnh]]”&amp;lt;ref&amp;gt;Nam Kỳ Lục Tỉnh là tên gọi chính thức của sáu tỉnh thuộc miền Nam Việt Nam được người Pháp và triều Nguyễn tổ chức từ năm 1867–1868, sau khi Pháp chiếm trọn Nam Kỳ. Đây là giai đoạn hành chính quan trọng trong lịch sử Nam Bộ. &amp;lt;/ref&amp;gt; (tiếng Pháp: &#039;&#039;[[Cochinchine]]&#039;&#039;), trở thành một hạt tham biện (arrondissement) thuộc khu vực (circonscription) Mỹ Tho do thực dân Pháp đặt ra. Hạt tham biện (còn gọi là Tiểu khu hành chính, trị sở được dân gian quen gọi là tòa Bố) Gò Công gồm 4 tổng: [[Tổng Hòa Đồng Thượng|Hòa Đồng Thượng]] (có 8 làng), [[Tổng Hòa Đồng Hạ|Hòa Đồng Hạ]] (có 10 làng), [[Tổng Hòa Lạc Thượng|Hòa Lạc Thượng]] (có 10 làng), [[Tổng Hòa Lạc Hạ|Hòa Lạc Hạ]] (có 12 làng). Xem chi tiết bài [https://gocong.org/go-cong-tien-giang-hon-100-nam-truoc/ Gò Công – Tiền Giang hơn 100 năm trước]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Gò Công trở thành tỉnh Gò Công, với số tổng và số làng không đổi. Tỉnh lị là [[thị xã Gò Công]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, Gò Công trở thành quận thuộc tỉnh Mỹ Tho. Sau đó lại tái lập tỉnh Gò Công với 5 tổng, thêm [[tổng Hòa Đồng Trung]], số làng cũng thay đổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Việt Nam Cộng Hòa ===&lt;br /&gt;
Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sáp nhập tỉnh Gò Công vào tỉnh Định Tường mới thành lập trên phần đất tỉnh Mỹ Tho. Ngày 20 tháng 12 năm 1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập tỉnh Gò Công, tách từ tỉnh Định Tường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công là một tỉnh nhỏ, phía bắc với giáp hai tỉnh Long An và Gia Định, phía đông là biển Đông, phía nam giáp tỉnh Kiến Hòa, phía tây giáp tỉnh Định Tường. Ranh giới phía nam của Gò Công là [[sông Cửa Đại]], ranh giới phía bắc là [[Sông Vàm Cỏ|sông Vàm Cỏ Tây]], còn ranh giới phía đông bắc là sông Nhà Bè đổ ra cửa Soài Rạp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi mới tái lập tỉnh Gò Công gồm 2 quận [[Quận Châu Thành|Châu Thành]] (đổi tên từ [[quận Gò Công]]) và [[Quận Hòa Đồng|Hòa Đồng]] với 4 tổng 31 xã. Ngày 6 tháng 4 năm 1965, chia quận Châu Thành (tỉnh Gò Công) thành 2 quận: [[Quận Hòa Tân|Hòa Tân]], quận lỵ tại [[xã Tân Niên Tây]] với 9 xã; [[Quận Hòa Lạc|Hòa Lạc]], quận lỵ tại [[xã Tăng Hòa]] với 9 xã; chia [[quận Hòa Đồng]] thành 2 quận: Hòa Đồng, quận lỵ tại xã Vĩnh Bình với 8 xã; [[Quận Hòa Bình|Hòa Bình]], quận lỵ tại [[xã Bình Luông Đông]] với 5 xã. Như vậy tỉnh Gò Công có 4 quận.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 2 năm 1976 tỉnh Gò Công nhập với Mỹ Tho thành tỉnh Tiền Giang. Hiện nay địa bàn tỉnh Gò Công cũ tương ứng với thị xã Gò Công và các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ===&lt;br /&gt;
Tháng 2 năm 1976, tỉnh Gò Công hợp nhất với tỉnh Mỹ Tho và thành phố Mỹ Tho để trở thành tỉnh Tiền Giang. Đô thị Gò Công trở thành thị xã trực thuộc tỉnh Tiền Giang cho đến ngày nay. Chính quyền tỉnh Tiền Giang dự kiến đến năm 2025 thị xã Gò Công sẽ trở thành thành phố trực thuộc tỉnh.&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1976&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Cơ cấu hành chính ban đầu của Tiền Giang&lt;br /&gt;
|Tỉnh Tiền Giang có Thị xã Gò Công (đô thị Gò Công cũ) và huyện Gò Công (bao gồm phần đất còn lại).&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;Năm 1977&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Điều chỉnh hành chính cấp huyện&lt;br /&gt;
|Theo Quyết định số 77-CP, Thị xã Gò Công được chuyển thành Thị trấn Gò Công thuộc huyện Gò Công.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;Năm 1979&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Chia tách huyện Gò Công&lt;br /&gt;
|Huyện Gò Công được chia thành hai huyện mới: [[Huyện Gò Công Đông]] và [[Huyện Gò Công Tây]]. Thị trấn Gò Công lúc này thuộc huyện Gò Công Tây.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1987&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Tái lập Thị xã Gò Công&lt;br /&gt;
|Theo Quyết định số 37-QĐ/HĐBT ngày 16/2/1987 của Hội đồng Bộ trưởng, Thị xã Gò Công được tái lập trên cơ sở tách ra từ huyện Gò Công Tây (bao gồm cả thị trấn Gò Công và một số xã lân cận).&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1994&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Thành lập các phường mới&lt;br /&gt;
|Chính phủ ban hành Nghị định 69-CP (23/6/1994) thành lập Phường 3 và Phường 4 thuộc Thị xã Gò Công.&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Thành Phố Gò Công ====&lt;br /&gt;
19/3/2024 Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập [[Thành phố Gò Công]] trực thuộc tỉnh Tiền Giang, trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của Thị xã Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1/5/2024 Nghị quyết thành lập Thành phố Gò Công có hiệu lực. Gò Công chính thức trở thành thành phố thứ hai của tỉnh Tiền Giang (sau thành phố Mỹ Tho), với 10 đơn vị hành chính cấp xã (7 phường và 3 xã).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Sáp Nhập vào Đồng Tháp ====&lt;br /&gt;
1/7/2025 Thành phố Gò Công bị giải thể.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Gò Công được sắp xếp lại và trở thành các [[:Thể loại:Gò Công - Đồng Tháp|phường/xã trực thuộc tỉnh Đồng Tháp]] mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điều chỉnh cấp xã tại Gò Công: Theo Nghị quyết 1663/NQ-UBTVQH15 năm 2025 các đơn vị hành chính cấp xã của Gò Công giảm từ 10 xuống còn 4 đơn vị hành chính mới. &lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|Đơn vị Hành chính Mới&lt;br /&gt;
|Loại hình&lt;br /&gt;
|Cơ sở hình thành (ĐVHC cũ của Thành phố Gò Công)&lt;br /&gt;
|Diện tích (km²)&lt;br /&gt;
|Dân số (người)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Gò Công]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường 1, Phường 5, và Phường Long Hòa.&lt;br /&gt;
|10,06&lt;br /&gt;
|36.124&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Long Thuận]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường 2 và Phường Long Thuận.&lt;br /&gt;
|8,3&lt;br /&gt;
|29.715&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Bình Xuân]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường Long Chánh và Xã Bình Xuân.&lt;br /&gt;
|34,42&lt;br /&gt;
|32.052&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Sơn Qui]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường Long Hưng, Xã Tân Trung, và Xã Bình Đông.&lt;br /&gt;
|49,49&lt;br /&gt;
|48.590&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;Tóm tắt sự thay đổi:&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trước 1/5/2024 (Thị xã Gò Công): Có 10 đơn vị (5 phường, 5 xã, sau đó được sắp xếp còn 7 phường, 3 xã).&lt;br /&gt;
* Sau 1/5/2024 (Thành phố Gò Công): Có 10 đơn vị cấp xã.&lt;br /&gt;
* Sau 1/7/2025 (Khu vực Gò Công thuộc tỉnh Đồng Tháp mới): [[:Thể loại:Gò Công - Đồng Tháp|Khu vực Gò Công]] cũ được tinh gọn thành 4 phường mới, đều mang loại hình Phường (vì khu vực đô thị trung tâm được sắp xếp thành các phường).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Địa danh cũ trở thành khu vực: Khu vực đô thị Gò Công cũ chuyển từ cấp Thành phố/Thị xã thành các phường/xã trực thuộc tỉnh Đồng Tháp mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Tóm tắt về Gò Công|Xem tóm tắt các cột mốc]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Văn hóa ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Đình cổ Tân Đông - Gò Công since 1892.jpg|nhỏ|Đình cổ Tân Đông - 1892]]&lt;br /&gt;
Là vùng đất giàu truyền thống văn hóa Nam Bộ, mang dấu ấn giao thoa giữa văn hóa nông thôn đồng bằng sông Cửu Long và ảnh hưởng đô thị từ thời Pháp thuộc. Văn hóa Gò Công thể hiện qua nhiều mặt:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Lễ hội và tín ngưỡng: ===&lt;br /&gt;
* Người dân duy trì các lễ hội truyền thống gắn với nông nghiệp, như lễ cúng đất, lễ cầu mưa, lễ hội đình làng, lễ hội Kỳ yên...&lt;br /&gt;
* Thờ cúng các anh hùng dân tộc và các vị thần linh địa phương vẫn phổ biến, thể hiện sự tôn kính tổ tiên và gắn bó cộng đồng.&lt;br /&gt;
* Tôn giáo tại Gò Công: Tại Gò Công, các tôn giáo chính bao gồm Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam. Theo Niên giám thống kê Tiền Giang năm 2020, toàn tỉnh có 11 tôn giáo khác nhau, trong đó Phật giáo và Công giáo chiếm tỷ lệ lớn nhất.&lt;br /&gt;
* [[Tủ thờ Gò Công]] là một phần quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng và đời sống tinh thần của người dân địa phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Các lễ hội đặc trưng: ====&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Anh hùng dân tộc Trương Định.jpg|nhỏ|Anh hùng dân tộc Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Lễ giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Nghinh Ông]] - Vàm Láng (tổ chức tại [[Lăng ông|Lăng Ông Nam Hải]], Gò Công Đông)&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Kỳ Yên]] (hay Lễ Cầu An, tổ chức tại các Đình làng, tiêu biểu như Kỳ Yên Vĩnh Bình ở Gò Công Tây)&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Quan Thánh Đế Quân]] (hay Vía Quan Thánh/Vía Ông, tổ chức tại Chùa Ông - Miếu Quan Đế, Thị xã Gò Công)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Ngôn ngữ và văn học dân gian: ===&lt;br /&gt;
* Tiếng nói địa phương mang âm hưởng Nam Bộ với nhiều từ ngữ cổ, gần gũi với đời sống sông nước.&lt;br /&gt;
* Các hình thức văn học dân gian như ca dao, tục ngữ, truyện kể phản ánh nếp sống, đạo đức và kinh nghiệm lao động của cư dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Kiến trúc và nghệ thuật: ===&lt;br /&gt;
* Đình, chùa, nhà cổ Gò Công thường mang kiến trúc Nam Bộ điển hình, kết hợp yếu tố Pháp – Việt từ thời thuộc địa.&lt;br /&gt;
* Nghệ thuật dân gian như hát bội, cải lương, múa dân gian vẫn được gìn giữ trong các dịp lễ hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Đời sống cộng đồng: ===&lt;br /&gt;
* Gò Công là vùng đất nông nghiệp trù phú, nên đời sống cộng đồng mang tính gắn kết, hiếu khách và trọng lễ nghĩa.&lt;br /&gt;
* Truyền thống nghề thủ công như dệt chiếu, làm nón lá vẫn tồn tại ở một số làng nghề.&lt;br /&gt;
== Con người ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Chan-dung-0-4851-1721729554.jpg|nhỏ|[[Nam Phương Hoàng hậu|Nam Hương(Phương) Hoàng Hậu]]]]&lt;br /&gt;
Nơi đây có truyền thống học hành, nhiều người đỗ đạt cao trong các kỳ thi xưa rồi làm quan dưới các triều vua nhà Nguyễn. Ông [[Phạm Đăng Hưng]] đã từng làm quan Thượng thư dưới 3 triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Con gái ông là bà [[Từ Dụ Thái hậu|Phạm Thị Hằng]] là vợ vua Thiệu Trị, là mẹ vua Tự Đức tức [[Từ Dụ Thái hậu|Thái hậu Từ Dũ]] nổi tiếng trong lịch sử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công cũng là đất của hoàng hậu&amp;lt;ref&amp;gt;Tìm hiểu thêm: https://gocong.org/search/#gsc.tab=0&amp;amp;gsc.q=ho%C3%A0ng%20h%E1%BA%ADu&amp;amp;gsc.sort=&amp;lt;/ref&amp;gt;, người phụ nữ xứ này hãnh diện với tên gọi “Gò Công nhan sắc”; và Gò Công nổi tiếng với những nghệ nhân khéo tay, sáng tạo làm nên “cái tủ thờ” có giá trị văn hóa nghệ thuật mang tầm cỡ quốc gia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Giáo dục - Y tế ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Giáo dục ===&lt;br /&gt;
Thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: Gò Công nổi bật với phong trào [[:Thể loại:Giáo dục|văn hóa và giáo dục]]. Nhiều tác phẩm văn học quốc ngữ đầu tiên được xuất bản tại đây, như &#039;&#039;Việt âm văn uyển&#039;&#039; (1911). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay: Gò Công có hệ thống giáo dục đa dạng, từ mầm non đến trung cấp. Trường Trung cấp Gò Công cung cấp các ngành nghề như cơ khí, điện – điện tử, kế toán và dịch vụ. Ngoài ra, các nhóm trẻ cũng đóng góp vào việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Y tế ===&lt;br /&gt;
Trước năm 1975, Gò Công là một trong những trung tâm y tế quan trọng của miền Nam. Nơi đây có Bệnh viện Gò Công với quy mô lớn, phục vụ cho cả khu vực Gò Công và các huyện lân cận. Ngoài ra, các trạm y tế xã và đội ngũ y tế cơ sở cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Gò Công, trận dịch kinh hoàng nhất xảy ra hồi năm 1905. Dịch tả xảy ra sau trận bão, có khoảng 50% dân số ở đây được ghi nhận là đã chết trong trận dịch này.  &amp;lt;ref&amp;gt;Theo Việt Cúc trong Gò Công cảnh cũ người xưa ghi lại:“ Mầm thời khí phát lên rồi mới bôn ba cứu chữa thì quá muộn. Phần đông dân chúng thuở ấy còn mê tín, chỉ cầu khẩn khấn vái tống ôn, không biết đến thuốc men, giữ vệ sinh. Người chết rất nhiều....Có gia đình nội trong 10 ngày chết 3 người. Có nhà thì đứa em chết sớm mai, chiều tối đứa chị chết.....Chết nhiều đến nỗi thiếu hòm, thiếu ván để đóng quách mà chôn....”&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Y tế Gò Công hiện nay đã có sự phát triển mạnh mẽ, với hệ thống cơ sở y tế đa dạng và chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao. Người dân Gò Công và các khu vực lân cận có thể tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao.[[Tập tin:6329-4-Vietnamese-scaled.jpg|nhỏ|Gò Công Map]]&lt;br /&gt;
== Kinh tế ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời kỳ trước năm 1975 ===&lt;br /&gt;
Thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: Gò Công là một trong những trung tâm kinh tế, hành chính và văn hóa quan trọng của miền Nam. Sau năm 1862, làng Thuận Tắc trở thành trung tâm kinh tế, hành chính của chính quyền thuộc địa, với sự hình thành chợ Gò Công sầm uất nhất vùng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Nông nghiệp: Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa, cây ăn trái và thủy sản.&lt;br /&gt;
* Thủ công nghiệp: Phát triển các nghề thủ công như dệt chiếu, đan lát, làm gạch ngói, cung cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài vùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau 1975 ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Công nghiệp: Phát triển các khu công nghiệp như [[Khu công nghiệp dịch vụ dầu khí Soài Rạp|Khu công nghiệp Dịch vụ dầu khí Soài Rạp]], Khu công nghiệp Bình Đông, Khu công nghiệp Phú Tân, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.&lt;br /&gt;
* Nông nghiệp: Đẩy mạnh sản xuất nông sản chất lượng cao, ứng dụng công nghệ cao vào trồng trọt và chăn nuôi.&lt;br /&gt;
* Kinh tế biển: Gò Công Đông xác định kinh tế biển là hướng phát triển chủ đạo, với trọng tâm hoàn thiện hạ tầng đồng bộ phục vụ kinh tế - xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Giao thông ==&lt;br /&gt;
Trước năm 1975, giao thông Gò Công chủ yếu dựa vào đường thủy với hệ thống sông, rạch chằng chịt. Việc đi lại giữa Gò Công và Sài Gòn khi đó phần lớn qua [[phà Mỹ Lợi]] bắc ngang sông Vàm Cỏ. Tuyến phà này là cửa ngõ quan trọng nối liền Gò Công – Tân Hòa với quốc lộ 50, đồng thời là tuyến huyết mạch để vận chuyển hàng hóa, nông sản và hành khách giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau năm 1975, [[:Thể loại:Đường Sá|hệ thống giao thông Gò Công]] được cải thiện đáng kể. Quốc lộ 50 được mở rộng, nối thông đến Thành phố Hồ Chí Minh; [[cầu Mỹ Lợi]] được khánh thành năm 2015 thay thế phà cùng tên, tạo thuận lợi lớn cho việc giao thương. Ngoài ra, các tuyến đường tỉnh và liên huyện được nâng cấp, giúp Gò Công kết nối nhanh hơn với Mỹ Tho, Gò Công Đông, Gò Công Tây và vùng ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tên đường ở thành phố Gò Công trước năm 1975 ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Đường Phạm Đăng Hưng]] (cũ) nay là [[đường Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Võ Tánh]] nay là [[đường Rạch Gầm]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Phan Thanh Giản]] nay là [[đường Lê Thị Hồng Gấm]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Tân Hội]] và [[Đường Nguyễn Trãi|Nguyễn Trãi]] nay là [[đường Phan Chu Trinh]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Lý Thường Kiệt]] nay là [[đường Phan Đình Phùng]]&lt;br /&gt;
* [[Cụm đường Huyện Nguơn, Chủ Sự Thiều, Tổng Thư, Đồ Chiểu|Đường Huyện Nguơn, Chủ Sự Thiều, Tổng Thư và Đồ Chiểu]] nay là [[đường Nguyễn Huệ]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Huyện Tri]] nay là [[đường Võ Duy Linh]]&lt;br /&gt;
* Đường Hai Bà Trưng, Duy Tân và Tổng Đốc Phương nay là [[đường Hai Bà Trưng]]&lt;br /&gt;
* Đường Joffre, Thái Lập Thành, [[Đường Hộ Mưu|Hộ Mưu]] nay là [[đường Nguyễn Văn Côn]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Thái Học]] nay là [[đường Thủ Khoa Huân]]&lt;br /&gt;
* Đường Phan Đình Phùng, Phan Châu Trinh nay là đường Nguyễn Trãi&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Văn Thinh]] nay là [[Quốc lộ 50]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Từ Dũ]] nay là [[đường Lý Tự Trọng]]&lt;br /&gt;
* Đường Hàm Nghi và [[Đường Lê Văn Duyệt|Lê Văn Duyệt]] nay là [[đường Lưu Thị Dung]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Gia Long]] và [[Đường Trần Hưng Đạo|Trần Hưng Đạo]] nay là đường Trần Hưng Đạo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Những con đường mất hẳn do quy hoạch ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Đường Đốc Phủ Vinh]]&lt;br /&gt;
* [[Hẻm số 13]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Trịnh Hoài Đức]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Paulus Của]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Công Trứ]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Du]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Cả]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Pétrus Ký]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Địa Lý ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Gò Công ngập trong biển nước – Ảnh- tư liệu.jpg|nhỏ|Bão năm Giáp Thìn]]&lt;br /&gt;
Gò Công là một vùng đất thuộc tỉnh Tiền Giang, nằm ở phía Đông Nam của Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đất này có bờ biển dài hơn 32 km, giáp Biển Đông và nằm giữa các cửa sông lớn như Soài Rạp, Cửa Tiểu và Cửa Đại. Vị trí này rất thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Khí hậu ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình khoảng 27–27,9°C, lượng mưa trung bình từ 1.210 đến 1.424 mm/năm, giảm dần từ Bắc vào Nam&lt;br /&gt;
* Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 11, nhiệt độ cao và ẩm ướt, lượng mưa tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp và sinh thái.&lt;br /&gt;
Trận [[Bão năm Thìn|bão năm Giáp Thìn]] xảy ra vào ngày 1-5-1904, nhằm ngày 16-3 âm lịch, gây thiệt hại hầu hết các tỉnh ở Nam bộ. Trong đó, thiệt hại nặng nề nhất là Gò Công và vùng phụ cận, với trên 60% nhà bị sập đổ, 5.000 người chết trôi, 80% gia súc bị chết… Còn theo dân gian, truyền miệng qua thơ, vè, thì số người chết khoảng “một muôn hai” (tức khoảng 12.000 người).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sinh thái ===&lt;br /&gt;
Gò Công có hệ sinh thái phong phú, đặc biệt là hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển. Rừng ngập mặn tại các xã như Tân Thành và Vàm Láng có diện tích khoảng 1.210 ha, bao gồm cả rừng phòng hộ và bãi bồi ven biển. Hệ sinh thái này không chỉ là nơi sinh sống của nhiều loài động, thực vật, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển và phát triển du lịch sinh thái.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với bờ biển dài và hệ thống sông ngòi chằng chịt, Gò Công có tiềm năng lớn trong nuôi trồng và khai thác thủy sản. Các loài thủy sản nước lợ như tôm, cua, cá, sò, nghêu... có trữ lượng hàng năm ước tính khoảng 156.000 tấn tại các vùng cửa sông. Kinh tế biển không chỉ đóng góp vào thu nhập của người dân mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm và phát triển bền vững cho địa phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm Ất Tỵ (năm 1905), Gò Công bị nạn “[[Hoàng Trùng|hoàng trùng]]” (giặc châu chấu) phá hoại mùa màng khoảng gần nửa tháng, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp rất nặng nề. Người ta cho rằng, loài châu chấu này từ châu Phi tràn đến, chúng bay rợp trời, có đến hàng mấy triệu con mỗi đàn, đậu đáp ở đâu thì chỗ đó cây cỏ “trơ xương”, trụi lá. Năm sau thì bị nạn “[[Bạch Đồng|bạch đồng]]”. Suốt từ tháng 6 âm lịch đến tháng 10 năm Bính Ngọ (năm 1906) trời trong xanh, không có lấy một giọt mưa. Ban đêm sao sáng đầy trời. Khô hạn nhằm vào lúc nông dân sửa soạn làm lễ hạ điền, xuống giống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Du lịch ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Image-74.jpg|nhỏ|[[Dinh Chánh Tham Biện Gò Công]]]]&lt;br /&gt;
Gò Công đang phát triển du lịch sinh thái biển, kết hợp với văn hóa, lịch sử của vùng đất. Các điểm du lịch như Khu du lịch biển Tân Thành, vườn táo, di tích lịch sử cấp quốc gia và các cù lao ven biển thu hút du khách trong và ngoài tỉnh. Việc phát triển du lịch sinh thái không chỉ bảo tồn giá trị tự nhiên mà còn nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công có nhiều địa điểm du lịch văn hóa và sinh thái nổi bật, bao gồm: [[Dinh Đốc phủ Hải]] (Nhà Đốc Phủ Hải), [[Khu du lịch biển Tân Thành|Biển Tân Thành]] (Biển Gò Công), [[Đình Trung]], [[Lăng Hoàng Gia]] ([[Phạm Đăng Hưng|Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng]]), [[Đền thờ Trương Định|Đền thờ]] và [[Lăng mộ Trương Định|Lăng mộ]] anh hùng dân tộc [[Trương Định]], [[Mộ Bát Lăng]], [[Đình Tân Đông]] ([[Đình Gò Táo]]), [[Dinh Tỉnh Trưởng]] Gò Công, [[Khu du lịch sinh thái Làng Yến]], [[Khu mộ Đá Ong (Khu mộ Bà Tương)]], [[Miếu Võ Quốc Công|miếu thờ Võ Tánh]]...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Đặc sản - Ẩm thực ==&lt;br /&gt;
Gò Công là vùng đất nổi tiếng với nhiều đặc sản mang đậm hương vị Nam Bộ. Trong đó, sơ ri Gò Công và mắm Gò Công là hai sản vật tiêu biểu gắn liền với đời sống và văn hóa ẩm thực địa phương. [[Sơ ri Gò Công]] được trồng chủ yếu ở xã Tân Trung, Bình Xuân và phường 2, thị xã Gò Công, nổi tiếng nhờ trái nhỏ, vỏ mỏng, vị ngọt thanh và giàu vitamin C. Giống sơ ri này đã trở thành thương hiệu đặc trưng của vùng đất Gò Công ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Mắm Gò Công]] có nhiều loại như mắm tôm chua, mắm cá linh, mắm cá sặc... được chế biến theo phương pháp truyền thống, giữ nguyên hương vị mặn mòi của biển và đồng ruộng. Mắm Gò Công không chỉ là món ăn dân dã trong bữa cơm Nam Bộ mà còn là đặc sản được du khách tìm mua làm quà. [[Sam biển Gò Công]], [[Nghêu Gò Công]] là một loại hải sản đặc sản nổi bật ở vùng biển xã Vàm Láng, Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. [[Bánh giá Gò Công|Bánh vá]], còn gọi bánh giá, là món ăn đặc sản chỉ thấy ở Gò Công (Tiền Giang), đặc biệt nổi tiếng tại Chợ Giồng (Gò Công Tây).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đặc sản khác: [[Vọp Gò Công]], [[Nham Gò Công]], [[Hủ tíu Gò Công]], [[Tôm xe cán]], [[Bông lục bình]], [[Cá bống dừa]], [[Gỏi Nham Gò Công]], [[Dưa hấu Gò Công]], [[Chè Sơn Qui]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Văn chương - Thơ ca&amp;lt;ref&amp;gt;Tham khảo https://ca-dao.com/&amp;lt;/ref&amp;gt; ==&lt;br /&gt;
Gò Công cũng có nhiều cây bút Hán Nôm khá nổi tiếng như Tú tài [[Trần Văn Hội]] (Tú Hội), [[Trần Quang Hùng]] (Chủ Hùng), [[Ông Chủ Sự Thiều|Trần Đình Thiều]] (Chủ sự Thiều), [[Huỳnh Đình Nguơn|Huỳnh Đình Ngươn]]... Một số bài thơ Nôm của Huỳnh Đình Ngươn hiện còn được lưu giữ là [[Bóng người|Bóng người,]] [[Uống rượu say]], Cọp vẽ, [[Đi xe lửa]], Ngựa sút chuồng bị phạt, đặc biệt là bài cửu thủ liên hoàn Du hoạn ư Tho giang cảm tác... Khi ông mất, 20 năm sau, Lê Sum đã phiên âm bài nầy ra chữ quốc ngữ và in trong Việt âm Văn uyển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây cũng là quê hương của nữ thi sĩ [[Nguyễn Thị Kiêm|Lê Thị Kim]] (nữ sĩ [[Nguyễn Thị Manh Manh|Manh Manh]]) và [[Phan Thị Bạch Vân]], chủ nhân Nữ lưu thơ quán Gò Công.  &lt;br /&gt;
=== Thơ về Gò Công&amp;lt;ref&amp;gt;Thơ về Gò Công https://gocong.org/book/tuyen-tap-tho-go-cong/&amp;lt;/ref&amp;gt; ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca ====&lt;br /&gt;
Gò Công cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều thi sĩ. Nhà thơ Nguyễn Liên Phong đã viết trong [[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca]]:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Thanh lịch Gò-công xứ biết chơi,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Địa linh nhơn kiệt quả như lời.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Vỏ-công hùng cứ bia ngàn thuở,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Phạm-Tộc phủ thờ quới một nơi.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Phát trước nhiều ông danh tiếng rạng,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Nối sau chán kẻ hiển vinh đời.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Năm thìn ruổi mắc cơn giông bão,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Dựng lại bằng xưa cũng phước trời.&lt;br /&gt;
[[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca|Đọc thêm]]&amp;lt;/blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Kỷ niệm Gò Công ====&lt;br /&gt;
Bài thơ này ca ngợi vẻ đẹp thanh lịch và truyền thống văn hóa của Gò Công. Ngoài ra, nhà thơ Bùi Giáng trong bài &amp;quot;[[Kỷ niệm Gò Công (Bùi Giáng)|Kỷ niệm Gò Công]]&amp;quot; cũng đã viết:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Bên vườn ngày ấy có mai&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nở hoa bên trúc một ngày đầu xuân&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ấy ngày tôi đến Gò Công&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ba mươi năm vẫn còn mong trở về&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Về xem trở lại sơn khê&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò Công còn có như ngày đầu tiên&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Bên vườn còn bóng thuyền quyên?&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Đi về phảng phất thần tiên điệu đàn&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Về sau bỗng gặp muôn vàn&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Giấc trưa giờ ngọ một nàng Tiên Ngâu&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nàng tiên ấy đã đi đâu&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Hay còn lẩn quất giữa màu lá cây?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Kỷ niệm Gò Công (Bùi Giáng)|Đọc thêm]]&lt;br /&gt;
&amp;lt;/blockquote&amp;gt;Bài thơ này thể hiện nỗi nhớ và tình cảm sâu sắc của tác giả đối với Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Hồn đất Gò Công ====&lt;br /&gt;
Bài thơ viết về những tên gọi Gò Công theo thời gian&amp;lt;ref&amp;gt;Bài “Hồn đất Gò Công” là một trường ca địa – sử – văn hóa, viết theo lối biên niên bằng thơ, kết hợp giữa địa chí, sử ký và cảm thức thi ca. Bài thơ nhằm ghi lại lịch sử tên gọi và thân phận hành chính của đất Gò Công qua các thời kỳ, nhưng không viết bằng văn xuôi khô cứng mà bằng hồn thơ địa linh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây không chỉ là bài thơ “kể tên”, mà là bản tuyên ngôn mềm về căn tính Gò Công.&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò Công, vùng đất tứ linh;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Cánh chim nhạn trắng, đượm tình biển khơi.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Mênh mang sóng vỗ muôn đời;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gió đưa gió đẩy, về nơi ăn còng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khổng Tước Nguyên, thuở sơ phong;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò cao rợp bóng chim Công lượn vòng.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Rừng xanh cây trái đơm bông;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Dấu xưa ghi tạc giữa lòng núi sông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngược dòng lịch sử ghi lòng;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Lôi Lạp thuở ấy, khơi dòng khởi nguyên.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Tên xưa phủ cũ, lưu truyền;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Vạn trường khuất nẻo, biến thiên đổi dời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Hồn đất Gò Công|Đọc thêm]]&amp;lt;/blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Ca dao ===&lt;br /&gt;
Một trong những câu ca dao nổi tiếng về Gò Công là:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&amp;quot;Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,&amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gió nào độc bằng gió Gò Công.&amp;quot;&amp;lt;/blockquote&amp;gt;Câu ca dao này không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của Gò Công mà còn phản ánh sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Có đứa nào xạo bằng thằng Út Gò Công&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh đi đóng đáy Bãi Ngang&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ngó qua Láng Lộc thấy nàng lượm tôm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai về Tân Phước Rạch Già&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gởi con cá lóc hái cà nấu canh&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh đi chuyến gạo Gò Công,&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Anh về Bao Ngược&amp;lt;ref&amp;gt;&#039;&#039;Vàm Bao Ngược: Tên cửa sông tiếp giáp giữa sông Vàm Cỏ và sông Soài Rạp, thuộc địa phận huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Lòng sông ở đây sâu, nước chảy mạnh, thường có sóng to gió lớn, nên trước đây thường xảy ra tai nạn đắm thuyền.&#039;&#039;&amp;lt;/ref&amp;gt;, bị giông đứt buồm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh ơi về tới Gò Công&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nhớ mua bánh giá chợ Giồng tặng em&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây cũng là quê hương của nhà văn [[Hồ Biểu Chánh]], nhà văn Sơn Vương... Trong những năm 1925-1930, tại đây đã có Nhà xuất bản Nữ lưu thơ quán của [[Phan Thị Bạch Vân]] nổi tiếng toàn quốc, tập hợp nhiều cây bút tiến bộ đương thời cổ động cho nữ giới mở mang học vấn và bảo vệ luân lý đạo đức.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Âm Nhạc ==&lt;br /&gt;
[[File:Mẹ Gò Công - Bảo Yến.mp4|thumb|400px|Mẹ Gò Công - Bảo Yến - [[:Thể loại:Nhạc Gò Công|Nhạc Gò Công]]]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vùng đất Gò Công là nơi sản sinh ra nhiều nhạc sĩ tài năng, góp phần làm phong phú nền âm nhạc trữ tình Việt Nam, đặc biệt là dòng nhạc quê hương, tiền chiến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai tên tuổi tiêu biểu là nhạc sĩ [[Lê Dinh]] và [[Hoàng Phương]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Lê Dinh]] (1934 – 2020), thành viên của nhóm Lê Minh Bằng nổi tiếng, là tác giả của nhiều ca khúc được yêu mến như &#039;&#039;Tình yêu trả lại trăng sao&#039;&#039;, &#039;&#039;Bảo Tố&#039;&#039;, và là người thầy dạy nhạc cho nhạc sĩ Hoàng Phương.&lt;br /&gt;
* [[Hoàng Phương]] (1943 – 2002) được mệnh danh là &amp;quot;Ông hoàng nhạc Gò Công&amp;quot; với những sáng tác mang âm hưởng dân ca, trữ tình sâu lắng. Tác phẩm nổi bật nhất của ông là &amp;quot;Hoa sứ nhà nàng&amp;quot; (&#039;&#039;Hoa sứ nhà em&#039;&#039;) đã &amp;quot;làm mưa làm gió&amp;quot; khắp nơi, cùng với &amp;quot;[[Mẹ Gò Công]]&amp;quot;, &amp;quot;[[Chuyện tình hoa muống biển]]&amp;quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tác phẩm của những nhạc sĩ Gò Công, đặc biệt là nhạc của Hoàng Phương, đã được nhiều ca sĩ tên tuổi thể hiện thành công, trong đó có Bảo Yến (người đã góp phần làm nên tên tuổi cho băng nhạc Gò Công nổi tiếng thập niên 1980) và Phương Dung.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những sản phẩm độc đáo của vùng Gò Công như: điệu [[Lý Con Sáo Gò Công|lý con sáo Gò Công]], vẫn còn được lưu giữ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Ghi chú ==&lt;br /&gt;
&amp;lt;references /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tài liệu tham khảo ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Việt Cúc: [[Gò Công cảnh cũ người xưa]], Tự xuất bản 1969&lt;br /&gt;
* Girmeld Monographie de province de Go Cong 1936, Tham biện Chủ tỉnh Gò Công, Người dịch: Huỳnh Văn Phát.&lt;br /&gt;
* Huỳnh Minh: [[Gò Công xưa|Gò Công xưa và nay]], NXB Cánh Bằng, 1969.&lt;br /&gt;
* Gia phả họ Trần (bản chữ Quốc ngữ), Gia pháp gia đình họ Trần – Gò Công (họ Trần của bà Trần Thị Sanh, người vợ thứ của Trương Định)&lt;br /&gt;
* [[Gia Định Thành Thông Chí|Gia Định thành thông chí]] (嘉定城通志) hay &#039;&#039;Gia Định thông chí&#039;&#039; (嘉定通志) là một quyển địa chí của Trịnh Hoài Đức (1765-1825) viết về miền đất Gia Định bằng chữ Nho và chữ Nôm, là một sử liệu quan trọng về Nam Bộ thời nhà Nguyễn.&lt;br /&gt;
* [[Nam Kỳ Và Cư Dân Các Tỉnh Miền Đông|Nam kỳ và cư dân: Các tỉnh miền Đông]] - J. C. Baurac&lt;br /&gt;
* [[South Vietnam]] - Official Standard Names Approved by the United States Board on Geographic Names, 1971&lt;br /&gt;
* [[Địa chí Tiền Giang]] - Trần Hoàng Diệu, Nguyễn Anh Tuấn, 2005&lt;br /&gt;
* [[Tự vị tiếng nói miền Nam]] - Vương Hồng Sến, 1998&lt;br /&gt;
* [[Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ]] - Nguyễn Đình Tư, 2008&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Vọng Tiếng Đất Lành]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Lặng Thầm Hương Sắc]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Thao Thức Dấu Xưa]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Từ Làng Thành Phố]] - Phan Thanh Sắc, 2022&lt;br /&gt;
* [[Địa Phương Chí và Luật Đường Bộ tỉnh Gò Công đầu thế kỷ XX]] - Võ Văn Hải, 2025&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thống kê ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;p&amp;gt;Chúng ta có khoảng &#039;&#039;&#039;{{NUMBEROFPAGES}}&#039;&#039;&#039; trang nội dung các loại&amp;lt;/p&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;p&amp;gt;&#039;&#039;&#039;Mời đóng góp:&#039;&#039;&#039; [[Đặc biệt:Trang cần thiết|Trang cần viết]]&amp;lt;/p&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;div style=&amp;quot;background: aliceblue;padding: 15px;border: 1px solid #4054af;border-radius: 3px;color:#ed5381; margin-bottom:15px&amp;quot;&amp;gt;Trang nầy có một số thông tin ngắn gọn (ví dụ như tiểu sử [[Nam Phương Hoàng hậu]]). Vì vậy hãy tìm thêm trên trang chính https://gocong.org/ để xem những bài viết dài, phân tích chi tiết hơn.&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Tờ Hà Thành Ngọ Báo số ra ngày 11 tháng 06 năm 1934 trong mục Tin Kinh đô đã thông tin về việc Hoàng đế Bảo Đại cải chính danh hiệu của Nam Phương Hoàng hậu.&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Theo bài báo, ban đầu Hoàng đế Bảo Đại đã hạ chỉ dụ đặt danh hiệu là NAM HƯƠNG HOÀNG HẬU với ý nghĩa “Hương thơm từ phương Nam” (Parfum du Sud – 南香皇后). Tuy nhiên khi một viên Chấp sự trong Nội các ghi lại bằng chữ quốc ngữ đã chép nhầm chữ HƯƠNG thành chữ PHƯƠNG, và từ đó cái tên NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU đã được sử dụng cho đến nay dù danh hiệu này… sai so với ý gốc của Hoàng đế?&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Tên theo Việt ngữ của Hoàng Hậu là Nguyễn Thị Lan chứ không phải Nguyễn Hữu Thị Lan. Trường hợp Nguyễn Hữu này cũng tương đồng với trường hợp Ngô Đình sau này. Hậu thế chỉ vì muốn&#039;&#039; &#039;&#039;ca tụng cá nhân nên tự ý thêm chữ này chữ kia vào danh tính cho ra vẻ sang cả quý phái, trái với sự thực trong lịch sử. Làm gì có Nguyễn Hữu Thị Lan?&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&amp;lt;/div&amp;gt;&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Nguy%E1%BB%85n_Th%E1%BB%8B_Lan_-_%E9%98%AE%E6%B0%8F%E8%98%AD&amp;diff=3008</id>
		<title>Nguyễn Thị Lan - 阮氏蘭</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Nguy%E1%BB%85n_Th%E1%BB%8B_Lan_-_%E9%98%AE%E6%B0%8F%E8%98%AD&amp;diff=3008"/>
		<updated>2026-09-09T15:59:15Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Đổi hướng đến Nam Phương Hoàng hậu&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;#đổi [[Nam Phương Hoàng hậu]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tiểu sử]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Nam_Ph%C6%B0%C6%A1ng_Ho%C3%A0ng_h%E1%BA%ADu&amp;diff=3007</id>
		<title>Nam Phương Hoàng hậu</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Nam_Ph%C6%B0%C6%A1ng_Ho%C3%A0ng_h%E1%BA%ADu&amp;diff=3007"/>
		<updated>2026-09-09T15:56:28Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;=== (1914 – 1963) ===&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Tờ Hà Thành Ngọ Báo số ra ngày 11 tháng 06 năm 1934 trong mục Tin Kinh đô đã thông tin về việc Hoàng đế Bảo Đại cải chính danh hiệu của Nam Phương Hoàng hậu.&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Theo bài báo, ban đầu Hoàng đế Bảo Đại đã hạ chỉ dụ đặt danh hiệu là NAM HƯƠNG HOÀNG HẬU với ý nghĩa “Hương thơm từ phương Nam” (Parfum du Sud – 南香皇后). Tuy nhiên khi một viên Chấp sự trong Nội các ghi lại bằng chữ quốc ngữ đã chép nhầm chữ HƯƠNG thành chữ PHƯƠNG, và từ đó cái tên NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU đã được sử dụng cho đến nay dù danh hiệu này… sai so với ý gốc của Hoàng đế?&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Tên theo Việt ngữ của Hoàng Hậu là Nguyễn Thị Lan chứ không phải Nguyễn Hữu Thị Lan. Trường hợp Nguyễn Hữu này cũng tương đồng với trường hợp Ngô Đình sau này. Hậu thế chỉ vì muốn&#039;&#039; &#039;&#039;ca tụng cá nhân nên tự ý thêm chữ này chữ kia vào danh tính cho ra vẻ sang cả quý phái, trái với sự thực trong lịch sử. Làm gì có Nguyễn Hữu Thị Lan?&#039;&#039;[[Tập tin:Anh-cuc-quy-ve-ve-dep-tuyet-sac-cua-nam-phuong-hoang-hau.jpg|nhỏ|Nam Phương Hoàng hậu]]&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;Dòng dõi hoàng hậu Nam Phương&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Philippe Lê Phát Đạt (1841-1900) và Huỳnh Thị Tài (1845-1920) sinh ra 7 người con sau: Nicolas Lê Phát Tân (1860-1949), Jean Baptiste Lê Phát Thành (1864-1948), Denis Lê  Phát An (1868-1946), Pierre Lê Phát Vinh (1878-1957), Marie Lê Thị Bình (1879-1964)  và hai con gái khác không biết tên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;I-Nhánh Marie Lê Thị Bình&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bà Marie Lê Thị Bình có chồng tên Pierre Nguyễn Hữu Hào (1870-1937). Hai người có hai  con gái sau: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1-Agnès Nguyễn Hữu Hào (1903-1998), chồng là bá tước Pierre Didelot, người Pháp.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2-Jeanne-Marie Nguyễn Thị Lan (1913-1963), tức là Nam Hương Hoàng hậu. Nam Phương 南芳có nghĩa là hương thơm ở phía Nam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, Lê Phát Đạt là ông ngoại của Nam Phương. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ông Lê Phát Đạt theo đạo Cơ đốc giáo (Thiên chúa), thời trẻ du học ở Penang Mã Lai. Ông  có nhiều đồn điền lớn ở Nam bộ và thành viên đầu tiên của Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ  (Conseil colonial) thành lập năm 1880. Ông thuộc thành phần người giàu có ở Nam bộ và  đương nhiên có quốc tịch Pháp. Nhà thờ Huyện Sỹ ở Chợ Đuĩ Saigon, nhà thờ Chí Hoà  (quận 10) và nhà thờ Hạnh Thông Tây (Gò Vấp) là do chính ông xây cất. Dân gian đương thời có câu: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa“ (có nơi chép tứ  Trạch, tức là hội đồng Trạch Bạc Liêu). Sỹ là Huyện Sỹ Lê Phát Đạt, Phương là Tổng đốc  Đỗ Hữu Phương (1841-1914), con của bá hộ Khiêm có Pháp tịch năm 1881. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xường tên  thật là Lý Trường Quan (1842-1896), người gốc Minh hương, nhà cũ ở đường Hải thượng  Lãn ông trong Chợ Lớn. Ông hành nghề thông ngôn, thông thạo tiếng Pháp và tiếng Hoa.  Người dân thường gọi ông là bá hộ Xường vì ông là người thứ ba giàu có ở Nam Kỳ. Hoả là  Hui Bon Hỏa, tên chính xác là Hứa Bổn Hòa (1845-1901), người gốc Hoa. Ba công trình đồ  sộ do ông để lại cho dân Saigòn là bệnh viện Từ Dũ, biệt thự gia đình về sau trở thành viện  bảo tàng Mỹ thuật ở đường Phó Đức Chính và khách sạn hạng sang Majestic. &lt;br /&gt;
[[Tập tin:Ảnh Nam Phương Hoàng hậu do AI phục dựng.png|nhỏ|Ảnh Nam Phương Hoàng hậu do AI phục dựng]]&lt;br /&gt;
Có lẽ phải nói thêm người giàu có thứ năm đương thời là Hội đồng Trạch ở Bạc Liêu. Ông  tên thật là Trần Trinh Trạch (1872-1942). Thuở hàn vi, ông giữ trâu cho một bá hộ điền  chủ giàu có ở Bạc Liêu. Nhờ đi học thay cho con trưởng của ông điền chủ nên trở thành  thầy ký toà bố rồi “ẩm“ luôn một con gái của một bá hộ khác tên Phan Văn Bí. Từ đó trở  đi, ông thu mua đất đai của những điền chủ “thất cơ lỡ vận“. Khoảng 1930-1940, tài sản  của ông lên đến 100.000 hecta ruộng lúa và gần 100.000 hecta ruộng muối. Biệt thự tráng  lệ của ông ở Bạc Liêu ngày nay trở thành điểm tham quan du lịch củ tỉnh. Điều bất hạnh  cho ông là người con thứ ba Trần Trinh Huy (1900-1974) còn gọi là công tử Bạc Liêu phá  của đến khánh kiệt đến nỗi con cháu trở nên nghèo khó, có người phải chạy xe ôm để  sống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nguyễn Hữu Hào, cha của Nam Phương, người gốc Gò Công xuất thân trong một gia đình  khiêm tốn. Ông theo đạo công giáo và hành nghề thầy ký giữ sổ sách (Commis aux  écritures) biết tiếng Pháp. Cuộc đời của ông “lên hương“ nhờ sự giới thiệu của giám mục  Mossat của Hội truyền giáo nước ngoài ở Saigon (Missions étrangères de Paris) cho ông &#039;&#039;&#039; &#039;&#039;&#039;Lê Phát Đạt để giữ sổ sách. Rồi sau đó nhờ làm việc chăm chỉ siêng năng nên ông được Lê  Phát Đạt cho phép cưới con gái “rượu“ Marie Lê Thị Bình. Trước khi sắp qua đời năm  1937, Nguyễn Hữu Hào được chính quyền thuộc địa phong tặng huân chương Bắc đẩu Bội  tinh (Légion d’honneur). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày phong hàm có sự tham dự của thống đốc Nam Kỳ Pierre  Pagès và nhiều quan chức thuộc địa. Đương nhiên, Bảo Đại và Nam Phương cùng cả họ  hàng trong gia đình cũng có mặt. Bảo Đại còn phong cho cha vợ mình chức “Quận công  Long Mỹ“, tên một huyện của Rạch Giá, nơi Nguyễn Hữu Hào có nhiều đồng ruộng. Agnès Nguyễn Hữu Hào được sang Pháp năm 1920 du học ở trường “Dòng Đức Bà“  (Congrégation de Notre Dame) ở phố Lincoln Paris rồi về sau định cư luôn sau khi lấy  chồng với bá tước Didelot. Năm 1922, cả gia đình Nguyễn Hữu Hào có sang Paris thăm  Agnès. Năm 1927, Nguyễn Hữu Thị Lan cũng được gửi sang du học nhưng ở “Ký túc xá bà  xơ“ (Couvent des Oiseaux) ở 60 phố Ponthieu Paris cho đến tháng 9-1932 thì về nước.  Trường này do các nữ tu điều khiển không những dạy theo chương trình Nhà nước mà  còn dạy cung cách nghi lễ quý phái. Về sau, Nam Phương cũng bắt chước thành lập một  “Couvent des Oiseaux“ ở Đà Lạt. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một cách tình cờ, tháng 9-1932, Nguyễn Hữu Thị Lan về cùng chung chuyến tàu  d’Artagnan của hãng Messageries Maritimes với hoàng tử Vĩnh Thuỵ về nước để lên ngôi  hoàng đế. Khi vua cha Khải Định băng hà ngày 6-11-1925, hoàng tử Vĩnh Thuỵ lên ngôi  thế cha vào ngày 8-1-1926 rồi trở lại Pháp tiếp tục học hành. Triều đình do thượng thư bộ  Hình (Tư Pháp) Tôn Thất Hân (1853-1944) và thượng thư bộ Lễ Nguyễn Hữu Bài (1863- 1935) làm nhiếp chính trong thời gian vua Bảo Đại vắng mặt. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào thời đó, Vĩnh Thuỵ và Nguyễn Hữu Thị Lan chưa biết nhau ở Paris. Phải đợi khi về  nước, hai người mới biết nhau ở Đà Lạt qua sự sắp xếp của gia đình với sự đồng loã của  chính quyền thuộc địa. Cuối cùng, hai người kết hôn ngày 20-3-1934 tại điện Cần Chính ở  Huế. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dù vậy, cuộc hôn nhân này gặp không ít trắc trở vào lúc ban đầu. Lần đầu tiên, trong triều  đình nhà Nguyễn, hoàng hậu là người công giáo trong khi vua theo truyền thống là Khổng  giáo nếu không nói là Phật giáo. Trong triều đình, Hoàng thái hậu Từ Cung và đại thần  nhiếp chính Tôn Thất Hân cũng như đa số quan lại chống đối cuộc hôn nhân này. Về phía  gia đình Nguyễn Hữu Thị Lan, mọi người không ai đồng ý con mình phải bỏ đạo, thậm chí  còn đòi Bảo Đại phải theo đạo vợ!. Ngoài ra, tục lệ công giáo bắt buộc người chồng hay vợ  không có đạo phải nhập đạo công giáo. Do vua không thể theo đạo công giáo, tân lang  không muốn bỏ đạo của mình, tình trạng trở nên bế tắc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do Bảo Đại là vua của một nước, lối thoát duy nhất là xin phép Giáo hoàng Pie XI cho phép  “trường hợp đặc biệt“. Đại sứ Pháp bên cạnh Vatican được giao phó nhiệm vụ làm áp lực  với người thân cận của Giáo hoàng. Lúc ban đầu, Giáo hoàng không đồng ý!. Sau nhiều lần  bị làm áp lực, Giáo hoàng cuối cùng đồng ý với hai điều kiện: một là hoàng hậu vẫn giữ  đạo công giáo, hai là các con phải được làm lễ rửa tội (baptisé). Nói một cách khác là phải  vào đạo thiên chúa!. Nếu việc hoàng hậu giữ đạo của mình, vấn đề không gặp khó khăn,  trái lại việc con cái phải rửa tội trở thành nan giải. Vì lẽ là con khi nối ngôi vua cha không  thể là người công giáo. Như vậy phải làm sao?. Trong một thời gian, mọi người đều nghĩ  rằng cuộc hôn nhân không thể thành hình nhưng vua Bảo Đại quyết tâm thực hiện cho kỳ  được và có ý định coi thường (passer outre) lệnh Giáo hoàng. Nhưng các quan chức thân  gần cho đây không phải là ý kiến hay. Cuối cùng Bảo Đại phải nhượng bộ. Nhưng thay vì  rửa tội công khai thì làm rửa tội “thầm lén“!. Về sau, có nhiều người hỏi Nam Phương và  Bảo Long (con trưởng) về việc này thì được trả lời “không có“!. Năm 1939, trong chuyến  trở lại Pháp, Nam Phương được Giáo hoàng mới Pie XII trọng thể tiếp đón. “Chuyện cũ“  với Giáo hoàng Pie XI được coi như thuộc về quá khứ và Nam Phương được chính thức hoá là người công giáo. Điều này làm một số quan chức trong triều bất mãn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một cách nghịch lý, Bảo Đại vào cuối đời khi cưới bà Monique Baudot năm 1972, người  công giáo, phải vào đạo với tên thánh Jean-Robert trước khi qua đời ngày 31-7-1997 ở  bệnh viện Val de Grâce Paris và được chôn cất ở nghĩa trang sang Passy ở Paris. Cần phải nói thêm rằng trong lịch sử triều Nguyễn, chưa có ai được tấn phong hoàng hậu  khi vừa kết hôn với vua. Trước đó, 12 bà Hoàng của cung đình chỉ được tấn phong là  Vương Phi. Họ chi được trở thành hoàng hậu khi nhà vua băng hà. Lại nữa, do Bảo Đại  trước đỏ huỷ bỏ chế độ đa thê nên chỉ có con vợ chính mới có thể kế tục vua trái với tục lệ  truyền thống theo đó vua có thể truất ngôi con của vợ chính. Trường hợp của Nam  Phương thật có nhiều biệt lệ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;II-Cuộc sống của Nam Phương vào cuối đời&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Việt Minh cướp chính quyền tháng 8-1945, Bảo Đại ra Hà Nội làm “cố vấn“ cho HCM  thì Nam Phương và các con về sống ở biệt thự An Định. Mãi đến hai năm sau, Nam  Phương và các con mới sang Hongkong ngày 1-9-1947 gặp Bảo Đại đang lưu vong ớ đó.  Ngày 9-9-1947, Nam Phương và Bảo Đại có tiếp đoàn đại biểu ba Kỳ sang Hongkong với  mục tiêu tìm giải pháp Bảo Đại về nước chấp chính. Ngày 25-10-1947, Nam Phương và  các con sang Pháp cư trú ở lâu đài Thorenc, ngoại ô thành phố Cannes thuộc miền nam  nước Pháp. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau một thời gian dài sống chung với Bảo Đại từ năm 1947 đến năm 1958 ở lâu đài  Thorenc (lâu đài bán năm 1960 vì Bảo Đại cần tiền), Nam Phương vào cuối đời buồn nản  ra sống riêng vì Bảo Đại có cuộc sống phóng đãng với nhiều phụ nữ và cờ bạc đến sạch tuí.  Bà về sống một mình ở Chabrignac, một làng nhỏ thuộc tỉnh Corrèze, miền trung nước  Pháp. Ở đây bà mua một đồn điền 100 hec-ta có tên “La Perche“ và sống như người “nông  dân“ địa phương. Bà qua đời ở đó ngày 15-9-1963 sau một cơn bệnh ngắn, hưởng thọ 50  tuổi. Bà bị nghẹt thở hay viêm tấy (Phlegmon). Bà được chôn cất ở nghĩa trang công cộng  gần đó. Về sau, tro của Bảo Long và Bảo Thắng (con Ủt) cũng được đưa về đó. Đồn điền  của bà được ông André Mourand mua lại năm 1964 rồi sau đó bán lại cho người khác  năm 1970. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày qua đời của Nam Phương, Bảo Đại và các con có mặt cùng với những người thân gần  tham dự tang lễ. Chính quyền địa phương có tỉnh trưởng đại diện. Phía người Việt Nam có  chị Agnès Didelot và chồng, hoàng thân Bửu Lộc, hoàng thân Vĩnh Cẩn, tướng Nguyễn Văn  Hinh, cựu bí thư của Nam Phương Nguyễn Tiến Lãng và Trần Kim Tuyến. Mẹ của Nam  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phương, bà Marie Lê Thị Bình lúc đó ở Neuilly do tuổi cao (84 tuổi) không thể tham dự.  Ngoài ra, công chúa Như Lý (1908-2005) con vua Hàm Nghi cư ngụ ở Vigeois cùng tỉnh  Corrèze cách đó không xa do chồng François Barthomivat (quận tước de la Besse) đại  diện. Tương truyền nói rằng công chúa Như Lý không muốn gặp Nam Phương vào lúc  sinh thời vì vua Hàm Nghi bị lưu đày do chống Pháp còn Bảo Đại thì thân Pháp. Lại nữa, lý  lịch Bảo Đại, con vua Khải Định còn “mù mờ“. Công chúa Như Lý là bác sĩ Y khoa thành  hôn với quận công François de la Besse. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;III-Sau đây là 5 con của Nam Phương với Bảo Đại&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1-Nguyễn Phúc Bảo Long sinh tại Huế ngày 4-1-1936 và qua đời ngày 28-7-2007 ở Sens  (Pháp). Lúc thiếu thời, Bảo Long, năm 1948, được gửi nội trú ở Collège des Roches ở  Maslacq, một làng nhỏ thuộc tỉnh Pau. Đó là một trường tư dạy theo cơ đốc giáo. Sau khi  có tú tài toàn phần thì được gửi vào học trường quân sự Saint-Cyr, ngoại ô Paris rồi tiếp  tục học trường kỵ binh Saumur. Sau khi ra trường, Bảo Long tình nguyện đăng ký làm sĩ &#039;&#039;&#039; &#039;&#039;&#039;quan Lê Dương (Légion étrangère) đi phục vụ ở Algeria trong 10 năm. Về Paris, ông tiếp  tục học trường Khoa học Chính trị (Sciences Po) rồi hành nghề chuyên viên ngân hàng. Về  đời tư, Bảo Long có chung sống với một phụ nữ tên Isabelle Marry có nhiều đời chồng và  có con riêng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2-Nguyễn Phúc Phương Mai sinh tại Đà Lạt ngày 1-8-1937, có trình độ trung học. Lúc  thiếu thời, Phương Mai cũng được gửi đi học ở Couvent des Oiseaux. Năm 1971, Phương  Mai kết hôn với Pietro Badoglio, cháu nội của nguyên soái Badoglio, có lúc là thủ tướng  nước Ý. Hai người có một con Flavio (1973). Sách thường ghi chép người con gái Manuela  (1959) là con của Pietro Badoglio với Phương Mai nhưng không đúng. Phương Mai trước  khi lấy chồng có con riêng với một người Anh. Khi chồng Pietro qua đời năm 1992,  Phương Mai về Pháp sống ở Louveciennes, một ngoại ô sang trọng của Paris. Phương  Dung về sau cũng về đó sống chung với chị.  [Công chúa Phương Mai qua đời ngày 16-1-2021 ở Louveciennes] &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3-Nguyễn Phúc Phương Liên sinh tại Đà Lạt ngày 3-11-1938, có tú tài toàn phần. Lúc  thiếu thời cũng học ở Couvent des Oiseaux ở Neuilly, ngoại ô sang Paris. Bà kết hôn với  Bernard Soulan, chủ ngân hàng ở Bordeaux. Phương Liên hành nghề chuyên viên ngân  hàng. Hai người có hai con gái Valérie sinh năm 1963 và Caroline sinh năm 1966. Ông  Soulan qua đời năm 2017. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4-Nguyễn Phúc Phương Dung sinh tại Huế ngày 5-2-1942, có tú tài toàn phần. Lúc thiếu  thời cũng học ở Couvent des Oiseaux ở Neuilly. Có chồng một doanh nhân người Pháp đã  qua đời. Hai người có một con trai tên Benjamin Phương Nguyễn. Phương Dung hành  nghề chuyên gia về trẻ con. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5-Nguyễn Phúc Bảo Thắng sinh tại Đà Lạt ngày 30-9-1943 và qua đời ở Paris ngày 15-3- 2017. Lúc thiếu thời, Bảo Thắng cũng được gửi học Viện Stanilas ở Cannes, một chi ngánh  của Viện Stanilas Paris, một trường công giáo. Người ta không biết gì nhiều về người con  Út này. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nói tóm lại, các con của Nam Phương đều theo học trường công giáo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;Thay lời kết&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nam Phương còn được gọi là Hương thơm miền Nam trong gia đình vọng tộc có tiếng ở  Nam Bộ, thuộc loại người biệt lệ. Bà là người độc nhất theo đạo công giáo được phong  hoàng hậu khi còn sống của triều đình nhà Nguyễn. Bà một thời sống trong nhung lụa bên  cạnh một nhà vua phóng đãng. Thế nhưng, khi chính biến năm 1945, bà sống trong sợ hãi  gần hai năm để vào cuối đời sống trong buồn nản rồi qua đời không có thân nhân bên  cạnh ở tuổi hồi xuân vừa đúng 50. Thật là đáng cảm kích và thương tâm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Cuốn sách &amp;quot;Theo Dấu Hoàng Hậu Nam Phương và Vua Bảo Đại&amp;quot; cùng các bài khảo cứu tiểu sử độc lập (như của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn) đã chỉ rõ:&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Chi tiết nội dung: Trong tất cả các giấy tờ khai sinh và giấy tờ rửa tội tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn (vào ngày 18/11/1913), tên thật của bà được ghi nhận rành rành là Jeanne Mariette Nguyễn Thị Lan.&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Lý giải sự thêu dệt: Thân phụ của bà tên là Pierre Nguyễn Hữu Hào (tước Quận công). Theo thói quen Nho giáo và tâm lý sính chuộng sự quyền quý của người đời sau, chữ &amp;quot;Hữu&amp;quot; đã được tự ý cắt ghép từ tên của cha bà đưa vào tên con gái thành &amp;quot;Nguyễn Hữu Thị Lan&amp;quot; để tạo cảm giác về một dòng họ mang danh gia vọng tộc.&#039;&#039;&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tiểu sử]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Trang_Ch%C3%ADnh&amp;diff=3006</id>
		<title>Trang Chính</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Trang_Ch%C3%ADnh&amp;diff=3006"/>
		<updated>2026-09-09T15:18:24Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: /* Thống kê */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;big&amp;gt;&#039;&#039;&#039;Gò Công - Bách khoa toàn thư&#039;&#039;&#039;&amp;lt;/big&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Gcoongorgg.jpg|nhỏ|Logo: Nguyen Pham]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Thanh lịch [[Gò Công]] xứ biết chơi,&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;[[Địa linh nhân kiệt|Địa linh nhơn kiệt]] quả như lời.&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Võ công hùng cứ bia ngàn thuở,&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Phạm tộc phủ thờ quới một nơi.&#039;&#039;&amp;lt;ref&amp;gt;[[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca]]&amp;lt;/ref&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công là tỉnh cũ ([[Tỉnh Gò Công]]) ở miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long), Việt Nam. Tỉnh này được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1900, tồn tại vào [[thời Pháp thuộc]] và bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể vào cuối năm 1956. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, sau đó tỉnh Gò Công lại được chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập vào năm 1963, tiếp tục tồn tại và bị mất tên gọi đơn vị hành chính cấp tỉnh từ tháng 2 năm 1976 cho đến 2025 thì bị sáp nhập vào tỉnh Đồng Tháp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tên gọi ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về các tên cũ của vùng đất Gò Công trong lịch sử, nó đã trải qua một số tên gọi và cách gọi khác nhau tùy theo thời kỳ và cách tổ chức hành chính:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable sortable hometable&amp;quot; style=&amp;quot;float:right; max-width:450px;&amp;quot;&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Gò Công&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tra cứu địa điểm Gò Công&lt;br /&gt;
|https://diadiemgocong.com&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Địa lý&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |&#039;&#039;&#039;Tọa độ:&#039;&#039;&#039; 10°22′B 106°40′Đ / 10,36°B 106,66°Đ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Diện tích&lt;br /&gt;
|102,36 km²&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Dân số (2022)&lt;br /&gt;
|151.937 người&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Mật độ&lt;br /&gt;
|1.4843 người/km²&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Dân tộc&lt;br /&gt;
|Chủ yếu là Kinh và Hoa&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Hành chính&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Quốc gia&lt;br /&gt;
|Việt Nam&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Vùng&lt;br /&gt;
|Tây Nam Bộ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Thành lập&lt;br /&gt;
|16/2/1987&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tên gọi&lt;br /&gt;
|Các giả thuyết về [[tên gọi Gò Công]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Bản đồ&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
* [[Bản đồ Gò Công]]&lt;br /&gt;
* [[Thành phố Gò Công]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Khu vực&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công|Vùng Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Lôi Lạp]]&lt;br /&gt;
** [[Huyện Tân Hòa]]&lt;br /&gt;
** [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi]]&lt;br /&gt;
** [[Làng Thành Phố]]&lt;br /&gt;
** [[Tỉnh Gò Công]] ([[Tỉnh Gò Công 1900-1913; 1924-1954|1900-1913; 1924-1954,]] [[Tỉnh Gò Công 1968-1975|1968-1975]], [[Tỉnh Gò Công 1954-1956; 1963-1975|1954-1956; 1963-1975]], [[Quận Gò Công]])&lt;br /&gt;
** [[Thị trấn Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Thị xã Gò Công]] ([[Thị xã Gò Công 2020|2020]])&lt;br /&gt;
** [[Thành phố Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Phường Gò Công]]&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công Đông|Vùng Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
** [[Gò Công Đông|Huyện Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công Tây|Vùng Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
** [[Gò Công Tây|Huyện Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
*[[:Thể loại:Tân Phú Đông|Vùng Tân Phú Đông]]&lt;br /&gt;
**[[Huyện Tân Phú Đông]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Thơ ca - Nghệ thuật&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Ca dao|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Ca dao&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Nhạc Gò Công|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Nhạc Gò Công&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Văn thơ về Gò Công|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Văn thơ về Gò Công&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Văn hóa - Lễ hội&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Văn hóa|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Văn hóa&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Từ địa phương&lt;br /&gt;
| [[:Thể loại:Phương ngữ|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Phương ngữ&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tên gọi - Địa Danh&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Danh xưng|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Danh xưng&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Địa lý|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Địa lý&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Đặc sản - Làng nghề&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Đặc sản|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Đặc sản&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Sản phẩm truyền thống|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Sản phẩm truyền thống&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Khảo cứu&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Tiểu sử|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Tiểu sử&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Tài liệu|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Tài liệu&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Hình ảnh|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Hình ảnh&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Chuyện xưa, Tích cũ|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Chuyện xưa, Tích cũ&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Giao thông - Vị trí&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Đường Sá|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Đường Sá&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Giáo dục|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Giáo dục&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Nhóm Facebook&lt;br /&gt;
|https://www.facebook.com/groups/gocong&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Lôi Lạp]]&amp;lt;ref&amp;gt;Lôi Lạp (雷巤) chính là một tên gọi cũ, mang tính lịch sử của vùng đất Gò Công ngày nay (thuộc tỉnh Tiền Giang).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo các tài liệu lịch sử và địa chí:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vùng đất Lôi Lạp xưa được nhắc đến vào khoảng năm 1757, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lôi Lạp (雷巤) là tên gọi ban đầu của vùng bán đảo Gò Công hiện tại.&amp;lt;/ref&amp;gt; (雷巤): Đây là tên gọi của vùng đất này khi nó còn là một phủ của vương triều Khmer (Chân Lạp) trước năm 1757.&lt;br /&gt;
* [[Huyện Tân Hòa]]: Sau khi được Chúa Nguyễn tiếp quản, vùng Gò Công là một phần của huyện Tân Hòa, thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định. Lúc này, “Gò Công” chỉ là tên của nơi đặt lỵ sở (trung tâm hành chính) của huyện Tân Hòa.&lt;br /&gt;
* [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi]]: Vào thời vua Gia Long (đầu thế kỷ 19), trung tâm thị xã Gò Công ngày nay là hai thôn nhỏ này.&lt;br /&gt;
* [[Làng Thành Phố]]: Đến năm 1885, hai làng Thuận Tắc và Thuận Ngãi được sáp nhập và đổi tên thành “làng Thành Phố”. Đây là một cái tên khá độc đáo và có ý nghĩa quan trọng, cho thấy đây là một đô thị sớm phát triển ở Nam Kỳ.&amp;lt;ref&amp;gt;Gò Công – Bí ẩn Làng thành phố đầu tiên của lục tỉnh – Kỳ 1: Tìm lại dấu xưa Làng thành phố https://gocong.org/go-cong-bi-an-lang-thanh-pho-dau-tien-cua-luc-tinh-ky-1-tim-lai-dau-xua-lang-thanh-pho/&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bóng hình làng Thành Phố https://gocong.org/go-cong-bi-an-lang-thanh-pho-dau-tien-cua-luc-tinh-ky-1-tim-lai-dau-xua-lang-thanh-pho/ &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Pháp lập làng thành phố làm Tỉnh lỵ Gò Công https://gocong.org/phap-lap-lang-thanh-pho-lam-tinh-ly-go-cong/&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* [[Tỉnh Gò Công]]: Trong một số giai đoạn dưới thời Pháp thuộc và thời Việt Nam Cộng hòa, Gò Công được nâng lên thành một tỉnh riêng biệt, với tỉnh lỵ đặt tại làng Thành Phố (sau là [[xã Long Thuận]]).&lt;br /&gt;
* [[Thị xã Gò Công]]: Sau năm 1975, khi các tỉnh sáp nhập để thành lập tỉnh Tiền Giang, Gò Công trở thành thị xã thuộc tỉnh Tiền Giang. Thậm chí có một giai đoạn ngắn (năm 1977-1979), thị xã Gò Công còn bị hạ cấp thành thị trấn Gò Công thuộc huyện Gò Công.&lt;br /&gt;
* [[Thành phố Gò Công]]: Kể từ ngày 1 tháng 5 năm 2024, Thị xã Gò Công đã chính thức được công nhận là Thành phố Gò Công trực thuộc tỉnh Tiền Giang.&lt;br /&gt;
Tên gọi Gò Công còn chỉ:&lt;br /&gt;
* Huyện [[Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
* Huyện [[Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
* Tỉnh cũ Gò Công, tồn tại trong hai giai đoạn 1900-1956 và 1963-1976; nay là một phần tỉnh Tiền Giang&lt;br /&gt;
* Huyện cũ Gò Công, ban đầu thuộc tỉnh tỉnh Mỹ Tho và sau đó thuộc Tiền Giang cho đến năm 1979; tương ứng với địa bàn [[thành phố Gò Công]], Gò Công Đông, Gò Công Tây và [[Tân Phú Đông]] thuộc tỉnh Tiền Giang&lt;br /&gt;
* [[Thị trấn Gò Công|Thị trấn cũ Gò Công]] thuộc huyện Gò Công, tồn tại từ 1977 đến 1987; tương ứng với phường 1 và phường 2 thuộc thành phố Gò Công&lt;br /&gt;
* Địa danh cũ Gò Công thuộc [[tổng Long Vĩnh Hạ]], huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa xưa; nay thuộc phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức.&lt;br /&gt;
[[Tập tin:1881.jpg|nhỏ|Bản đồ Gò Công 1881]]&lt;br /&gt;
=== Thời nhà Nguyễn và đầu thời Pháp thuộc ===&lt;br /&gt;
Chúa Nguyễn Ánh sau khi chạy sang Xiêm, vào năm Đinh-Vị 1787 kéo quân trở về và qua vùng Gò Công (lúc đó thuộc huyện Tân-Hòa, tỉnh Định Tường), ông tiến hành củng cố quyền lực Nam Kỳ. [[Gò Công Được Lập Nền Hành Chánh]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công thuộc huyện [[Tân Hòa]], phủ [[Tân An]], tỉnh [[Gia Định]]. Năm 1885, người Pháp gọi vùng đất này là &amp;quot;[[Làng thành phố]]&amp;quot;, đô thị đầu tiên mang tên thành phố của Nam Kỳ Lục tỉnh, là sự hợp nhất của hai làng [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi|Thuận Tắc và Thuận Ngãi]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Pháp thuộc ===&lt;br /&gt;
Năm 1876 Gò Công, vốn trước kia thuộc tỉnh [[Định Tường]] thời “[[Nam Kỳ Lục Tỉnh|Nam Kỳ lục tỉnh]]”&amp;lt;ref&amp;gt;Nam Kỳ Lục Tỉnh là tên gọi chính thức của sáu tỉnh thuộc miền Nam Việt Nam được người Pháp và triều Nguyễn tổ chức từ năm 1867–1868, sau khi Pháp chiếm trọn Nam Kỳ. Đây là giai đoạn hành chính quan trọng trong lịch sử Nam Bộ. &amp;lt;/ref&amp;gt; (tiếng Pháp: &#039;&#039;[[Cochinchine]]&#039;&#039;), trở thành một hạt tham biện (arrondissement) thuộc khu vực (circonscription) Mỹ Tho do thực dân Pháp đặt ra. Hạt tham biện (còn gọi là Tiểu khu hành chính, trị sở được dân gian quen gọi là tòa Bố) Gò Công gồm 4 tổng: [[Tổng Hòa Đồng Thượng|Hòa Đồng Thượng]] (có 8 làng), [[Tổng Hòa Đồng Hạ|Hòa Đồng Hạ]] (có 10 làng), [[Tổng Hòa Lạc Thượng|Hòa Lạc Thượng]] (có 10 làng), [[Tổng Hòa Lạc Hạ|Hòa Lạc Hạ]] (có 12 làng). Xem chi tiết bài [https://gocong.org/go-cong-tien-giang-hon-100-nam-truoc/ Gò Công – Tiền Giang hơn 100 năm trước]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Gò Công trở thành tỉnh Gò Công, với số tổng và số làng không đổi. Tỉnh lị là [[thị xã Gò Công]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, Gò Công trở thành quận thuộc tỉnh Mỹ Tho. Sau đó lại tái lập tỉnh Gò Công với 5 tổng, thêm [[tổng Hòa Đồng Trung]], số làng cũng thay đổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Việt Nam Cộng Hòa ===&lt;br /&gt;
Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sáp nhập tỉnh Gò Công vào tỉnh Định Tường mới thành lập trên phần đất tỉnh Mỹ Tho. Ngày 20 tháng 12 năm 1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập tỉnh Gò Công, tách từ tỉnh Định Tường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công là một tỉnh nhỏ, phía bắc với giáp hai tỉnh Long An và Gia Định, phía đông là biển Đông, phía nam giáp tỉnh Kiến Hòa, phía tây giáp tỉnh Định Tường. Ranh giới phía nam của Gò Công là [[sông Cửa Đại]], ranh giới phía bắc là [[Sông Vàm Cỏ|sông Vàm Cỏ Tây]], còn ranh giới phía đông bắc là sông Nhà Bè đổ ra cửa Soài Rạp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi mới tái lập tỉnh Gò Công gồm 2 quận [[Quận Châu Thành|Châu Thành]] (đổi tên từ [[quận Gò Công]]) và [[Quận Hòa Đồng|Hòa Đồng]] với 4 tổng 31 xã. Ngày 6 tháng 4 năm 1965, chia quận Châu Thành (tỉnh Gò Công) thành 2 quận: [[Quận Hòa Tân|Hòa Tân]], quận lỵ tại [[xã Tân Niên Tây]] với 9 xã; [[Quận Hòa Lạc|Hòa Lạc]], quận lỵ tại [[xã Tăng Hòa]] với 9 xã; chia [[quận Hòa Đồng]] thành 2 quận: Hòa Đồng, quận lỵ tại xã Vĩnh Bình với 8 xã; [[Quận Hòa Bình|Hòa Bình]], quận lỵ tại [[xã Bình Luông Đông]] với 5 xã. Như vậy tỉnh Gò Công có 4 quận.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 2 năm 1976 tỉnh Gò Công nhập với Mỹ Tho thành tỉnh Tiền Giang. Hiện nay địa bàn tỉnh Gò Công cũ tương ứng với thị xã Gò Công và các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ===&lt;br /&gt;
Tháng 2 năm 1976, tỉnh Gò Công hợp nhất với tỉnh Mỹ Tho và thành phố Mỹ Tho để trở thành tỉnh Tiền Giang. Đô thị Gò Công trở thành thị xã trực thuộc tỉnh Tiền Giang cho đến ngày nay. Chính quyền tỉnh Tiền Giang dự kiến đến năm 2025 thị xã Gò Công sẽ trở thành thành phố trực thuộc tỉnh.&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1976&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Cơ cấu hành chính ban đầu của Tiền Giang&lt;br /&gt;
|Tỉnh Tiền Giang có Thị xã Gò Công (đô thị Gò Công cũ) và huyện Gò Công (bao gồm phần đất còn lại).&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;Năm 1977&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Điều chỉnh hành chính cấp huyện&lt;br /&gt;
|Theo Quyết định số 77-CP, Thị xã Gò Công được chuyển thành Thị trấn Gò Công thuộc huyện Gò Công.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;Năm 1979&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Chia tách huyện Gò Công&lt;br /&gt;
|Huyện Gò Công được chia thành hai huyện mới: [[Huyện Gò Công Đông]] và [[Huyện Gò Công Tây]]. Thị trấn Gò Công lúc này thuộc huyện Gò Công Tây.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1987&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Tái lập Thị xã Gò Công&lt;br /&gt;
|Theo Quyết định số 37-QĐ/HĐBT ngày 16/2/1987 của Hội đồng Bộ trưởng, Thị xã Gò Công được tái lập trên cơ sở tách ra từ huyện Gò Công Tây (bao gồm cả thị trấn Gò Công và một số xã lân cận).&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1994&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Thành lập các phường mới&lt;br /&gt;
|Chính phủ ban hành Nghị định 69-CP (23/6/1994) thành lập Phường 3 và Phường 4 thuộc Thị xã Gò Công.&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Thành Phố Gò Công ====&lt;br /&gt;
19/3/2024 Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập [[Thành phố Gò Công]] trực thuộc tỉnh Tiền Giang, trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của Thị xã Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1/5/2024 Nghị quyết thành lập Thành phố Gò Công có hiệu lực. Gò Công chính thức trở thành thành phố thứ hai của tỉnh Tiền Giang (sau thành phố Mỹ Tho), với 10 đơn vị hành chính cấp xã (7 phường và 3 xã).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Sáp Nhập vào Đồng Tháp ====&lt;br /&gt;
1/7/2025 Thành phố Gò Công bị giải thể.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Gò Công được sắp xếp lại và trở thành các [[:Thể loại:Gò Công - Đồng Tháp|phường/xã trực thuộc tỉnh Đồng Tháp]] mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điều chỉnh cấp xã tại Gò Công: Theo Nghị quyết 1663/NQ-UBTVQH15 năm 2025 các đơn vị hành chính cấp xã của Gò Công giảm từ 10 xuống còn 4 đơn vị hành chính mới. &lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|Đơn vị Hành chính Mới&lt;br /&gt;
|Loại hình&lt;br /&gt;
|Cơ sở hình thành (ĐVHC cũ của Thành phố Gò Công)&lt;br /&gt;
|Diện tích (km²)&lt;br /&gt;
|Dân số (người)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Gò Công]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường 1, Phường 5, và Phường Long Hòa.&lt;br /&gt;
|10,06&lt;br /&gt;
|36.124&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Long Thuận]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường 2 và Phường Long Thuận.&lt;br /&gt;
|8,3&lt;br /&gt;
|29.715&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Bình Xuân]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường Long Chánh và Xã Bình Xuân.&lt;br /&gt;
|34,42&lt;br /&gt;
|32.052&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Sơn Qui]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường Long Hưng, Xã Tân Trung, và Xã Bình Đông.&lt;br /&gt;
|49,49&lt;br /&gt;
|48.590&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;Tóm tắt sự thay đổi:&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trước 1/5/2024 (Thị xã Gò Công): Có 10 đơn vị (5 phường, 5 xã, sau đó được sắp xếp còn 7 phường, 3 xã).&lt;br /&gt;
* Sau 1/5/2024 (Thành phố Gò Công): Có 10 đơn vị cấp xã.&lt;br /&gt;
* Sau 1/7/2025 (Khu vực Gò Công thuộc tỉnh Đồng Tháp mới): [[:Thể loại:Gò Công - Đồng Tháp|Khu vực Gò Công]] cũ được tinh gọn thành 4 phường mới, đều mang loại hình Phường (vì khu vực đô thị trung tâm được sắp xếp thành các phường).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Địa danh cũ trở thành khu vực: Khu vực đô thị Gò Công cũ chuyển từ cấp Thành phố/Thị xã thành các phường/xã trực thuộc tỉnh Đồng Tháp mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Tóm tắt về Gò Công|Xem tóm tắt các cột mốc]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Văn hóa ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Đình cổ Tân Đông - Gò Công since 1892.jpg|nhỏ|Đình cổ Tân Đông - 1892]]&lt;br /&gt;
Là vùng đất giàu truyền thống văn hóa Nam Bộ, mang dấu ấn giao thoa giữa văn hóa nông thôn đồng bằng sông Cửu Long và ảnh hưởng đô thị từ thời Pháp thuộc. Văn hóa Gò Công thể hiện qua nhiều mặt:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Lễ hội và tín ngưỡng: ===&lt;br /&gt;
* Người dân duy trì các lễ hội truyền thống gắn với nông nghiệp, như lễ cúng đất, lễ cầu mưa, lễ hội đình làng, lễ hội Kỳ yên...&lt;br /&gt;
* Thờ cúng các anh hùng dân tộc và các vị thần linh địa phương vẫn phổ biến, thể hiện sự tôn kính tổ tiên và gắn bó cộng đồng.&lt;br /&gt;
* Tôn giáo tại Gò Công: Tại Gò Công, các tôn giáo chính bao gồm Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam. Theo Niên giám thống kê Tiền Giang năm 2020, toàn tỉnh có 11 tôn giáo khác nhau, trong đó Phật giáo và Công giáo chiếm tỷ lệ lớn nhất.&lt;br /&gt;
* [[Tủ thờ Gò Công]] là một phần quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng và đời sống tinh thần của người dân địa phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Các lễ hội đặc trưng: ====&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Anh hùng dân tộc Trương Định.jpg|nhỏ|Anh hùng dân tộc Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Lễ giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Nghinh Ông]] - Vàm Láng (tổ chức tại [[Lăng ông|Lăng Ông Nam Hải]], Gò Công Đông)&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Kỳ Yên]] (hay Lễ Cầu An, tổ chức tại các Đình làng, tiêu biểu như Kỳ Yên Vĩnh Bình ở Gò Công Tây)&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Quan Thánh Đế Quân]] (hay Vía Quan Thánh/Vía Ông, tổ chức tại Chùa Ông - Miếu Quan Đế, Thị xã Gò Công)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Ngôn ngữ và văn học dân gian: ===&lt;br /&gt;
* Tiếng nói địa phương mang âm hưởng Nam Bộ với nhiều từ ngữ cổ, gần gũi với đời sống sông nước.&lt;br /&gt;
* Các hình thức văn học dân gian như ca dao, tục ngữ, truyện kể phản ánh nếp sống, đạo đức và kinh nghiệm lao động của cư dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Kiến trúc và nghệ thuật: ===&lt;br /&gt;
* Đình, chùa, nhà cổ Gò Công thường mang kiến trúc Nam Bộ điển hình, kết hợp yếu tố Pháp – Việt từ thời thuộc địa.&lt;br /&gt;
* Nghệ thuật dân gian như hát bội, cải lương, múa dân gian vẫn được gìn giữ trong các dịp lễ hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Đời sống cộng đồng: ===&lt;br /&gt;
* Gò Công là vùng đất nông nghiệp trù phú, nên đời sống cộng đồng mang tính gắn kết, hiếu khách và trọng lễ nghĩa.&lt;br /&gt;
* Truyền thống nghề thủ công như dệt chiếu, làm nón lá vẫn tồn tại ở một số làng nghề.&lt;br /&gt;
== Con người ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Chan-dung-0-4851-1721729554.jpg|nhỏ|[[Nam Phương Hoàng hậu|Nam Hương(Phương) Hoàng Hậu]]]]&lt;br /&gt;
Nơi đây có truyền thống học hành, nhiều người đỗ đạt cao trong các kỳ thi xưa rồi làm quan dưới các triều vua nhà Nguyễn. Ông [[Phạm Đăng Hưng]] đã từng làm quan Thượng thư dưới 3 triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Con gái ông là bà [[Từ Dụ Thái hậu|Phạm Thị Hằng]] là vợ vua Thiệu Trị, là mẹ vua Tự Đức tức [[Từ Dụ Thái hậu|Thái hậu Từ Dũ]] nổi tiếng trong lịch sử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công cũng là đất của hoàng hậu&amp;lt;ref&amp;gt;Tìm hiểu thêm: https://gocong.org/search/#gsc.tab=0&amp;amp;gsc.q=ho%C3%A0ng%20h%E1%BA%ADu&amp;amp;gsc.sort=&amp;lt;/ref&amp;gt;, người phụ nữ xứ này hãnh diện với tên gọi “Gò Công nhan sắc”; và Gò Công nổi tiếng với những nghệ nhân khéo tay, sáng tạo làm nên “cái tủ thờ” có giá trị văn hóa nghệ thuật mang tầm cỡ quốc gia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Giáo dục - Y tế ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Giáo dục ===&lt;br /&gt;
Thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: Gò Công nổi bật với phong trào [[:Thể loại:Giáo dục|văn hóa và giáo dục]]. Nhiều tác phẩm văn học quốc ngữ đầu tiên được xuất bản tại đây, như &#039;&#039;Việt âm văn uyển&#039;&#039; (1911). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay: Gò Công có hệ thống giáo dục đa dạng, từ mầm non đến trung cấp. Trường Trung cấp Gò Công cung cấp các ngành nghề như cơ khí, điện – điện tử, kế toán và dịch vụ. Ngoài ra, các nhóm trẻ cũng đóng góp vào việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Y tế ===&lt;br /&gt;
Trước năm 1975, Gò Công là một trong những trung tâm y tế quan trọng của miền Nam. Nơi đây có Bệnh viện Gò Công với quy mô lớn, phục vụ cho cả khu vực Gò Công và các huyện lân cận. Ngoài ra, các trạm y tế xã và đội ngũ y tế cơ sở cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Gò Công, trận dịch kinh hoàng nhất xảy ra hồi năm 1905. Dịch tả xảy ra sau trận bão, có khoảng 50% dân số ở đây được ghi nhận là đã chết trong trận dịch này.  &amp;lt;ref&amp;gt;Theo Việt Cúc trong Gò Công cảnh cũ người xưa ghi lại:“ Mầm thời khí phát lên rồi mới bôn ba cứu chữa thì quá muộn. Phần đông dân chúng thuở ấy còn mê tín, chỉ cầu khẩn khấn vái tống ôn, không biết đến thuốc men, giữ vệ sinh. Người chết rất nhiều....Có gia đình nội trong 10 ngày chết 3 người. Có nhà thì đứa em chết sớm mai, chiều tối đứa chị chết.....Chết nhiều đến nỗi thiếu hòm, thiếu ván để đóng quách mà chôn....”&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Y tế Gò Công hiện nay đã có sự phát triển mạnh mẽ, với hệ thống cơ sở y tế đa dạng và chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao. Người dân Gò Công và các khu vực lân cận có thể tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao.[[Tập tin:6329-4-Vietnamese-scaled.jpg|nhỏ|Gò Công Map]]&lt;br /&gt;
== Kinh tế ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời kỳ trước năm 1975 ===&lt;br /&gt;
Thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: Gò Công là một trong những trung tâm kinh tế, hành chính và văn hóa quan trọng của miền Nam. Sau năm 1862, làng Thuận Tắc trở thành trung tâm kinh tế, hành chính của chính quyền thuộc địa, với sự hình thành chợ Gò Công sầm uất nhất vùng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Nông nghiệp: Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa, cây ăn trái và thủy sản.&lt;br /&gt;
* Thủ công nghiệp: Phát triển các nghề thủ công như dệt chiếu, đan lát, làm gạch ngói, cung cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài vùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau 1975 ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Công nghiệp: Phát triển các khu công nghiệp như [[Khu công nghiệp dịch vụ dầu khí Soài Rạp|Khu công nghiệp Dịch vụ dầu khí Soài Rạp]], Khu công nghiệp Bình Đông, Khu công nghiệp Phú Tân, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.&lt;br /&gt;
* Nông nghiệp: Đẩy mạnh sản xuất nông sản chất lượng cao, ứng dụng công nghệ cao vào trồng trọt và chăn nuôi.&lt;br /&gt;
* Kinh tế biển: Gò Công Đông xác định kinh tế biển là hướng phát triển chủ đạo, với trọng tâm hoàn thiện hạ tầng đồng bộ phục vụ kinh tế - xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Giao thông ==&lt;br /&gt;
Trước năm 1975, giao thông Gò Công chủ yếu dựa vào đường thủy với hệ thống sông, rạch chằng chịt. Việc đi lại giữa Gò Công và Sài Gòn khi đó phần lớn qua [[phà Mỹ Lợi]] bắc ngang sông Vàm Cỏ. Tuyến phà này là cửa ngõ quan trọng nối liền Gò Công – Tân Hòa với quốc lộ 50, đồng thời là tuyến huyết mạch để vận chuyển hàng hóa, nông sản và hành khách giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau năm 1975, [[:Thể loại:Đường Sá|hệ thống giao thông Gò Công]] được cải thiện đáng kể. Quốc lộ 50 được mở rộng, nối thông đến Thành phố Hồ Chí Minh; [[cầu Mỹ Lợi]] được khánh thành năm 2015 thay thế phà cùng tên, tạo thuận lợi lớn cho việc giao thương. Ngoài ra, các tuyến đường tỉnh và liên huyện được nâng cấp, giúp Gò Công kết nối nhanh hơn với Mỹ Tho, Gò Công Đông, Gò Công Tây và vùng ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tên đường ở thành phố Gò Công trước năm 1975 ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Đường Phạm Đăng Hưng]] (cũ) nay là [[đường Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Võ Tánh]] nay là [[đường Rạch Gầm]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Phan Thanh Giản]] nay là [[đường Lê Thị Hồng Gấm]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Tân Hội]] và [[Đường Nguyễn Trãi|Nguyễn Trãi]] nay là [[đường Phan Chu Trinh]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Lý Thường Kiệt]] nay là [[đường Phan Đình Phùng]]&lt;br /&gt;
* [[Cụm đường Huyện Nguơn, Chủ Sự Thiều, Tổng Thư, Đồ Chiểu|Đường Huyện Nguơn, Chủ Sự Thiều, Tổng Thư và Đồ Chiểu]] nay là [[đường Nguyễn Huệ]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Huyện Tri]] nay là [[đường Võ Duy Linh]]&lt;br /&gt;
* Đường Hai Bà Trưng, Duy Tân và Tổng Đốc Phương nay là [[đường Hai Bà Trưng]]&lt;br /&gt;
* Đường Joffre, Thái Lập Thành, [[Đường Hộ Mưu|Hộ Mưu]] nay là [[đường Nguyễn Văn Côn]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Thái Học]] nay là [[đường Thủ Khoa Huân]]&lt;br /&gt;
* Đường Phan Đình Phùng, Phan Châu Trinh nay là đường Nguyễn Trãi&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Văn Thinh]] nay là [[Quốc lộ 50]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Từ Dũ]] nay là [[đường Lý Tự Trọng]]&lt;br /&gt;
* Đường Hàm Nghi và [[Đường Lê Văn Duyệt|Lê Văn Duyệt]] nay là [[đường Lưu Thị Dung]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Gia Long]] và [[Đường Trần Hưng Đạo|Trần Hưng Đạo]] nay là đường Trần Hưng Đạo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Những con đường mất hẳn do quy hoạch ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Đường Đốc Phủ Vinh]]&lt;br /&gt;
* [[Hẻm số 13]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Trịnh Hoài Đức]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Paulus Của]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Công Trứ]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Du]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Cả]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Pétrus Ký]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Địa Lý ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Gò Công ngập trong biển nước – Ảnh- tư liệu.jpg|nhỏ|Bão năm Giáp Thìn]]&lt;br /&gt;
Gò Công là một vùng đất thuộc tỉnh Tiền Giang, nằm ở phía Đông Nam của Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đất này có bờ biển dài hơn 32 km, giáp Biển Đông và nằm giữa các cửa sông lớn như Soài Rạp, Cửa Tiểu và Cửa Đại. Vị trí này rất thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Khí hậu ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình khoảng 27–27,9°C, lượng mưa trung bình từ 1.210 đến 1.424 mm/năm, giảm dần từ Bắc vào Nam&lt;br /&gt;
* Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 11, nhiệt độ cao và ẩm ướt, lượng mưa tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp và sinh thái.&lt;br /&gt;
Trận [[Bão năm Thìn|bão năm Giáp Thìn]] xảy ra vào ngày 1-5-1904, nhằm ngày 16-3 âm lịch, gây thiệt hại hầu hết các tỉnh ở Nam bộ. Trong đó, thiệt hại nặng nề nhất là Gò Công và vùng phụ cận, với trên 60% nhà bị sập đổ, 5.000 người chết trôi, 80% gia súc bị chết… Còn theo dân gian, truyền miệng qua thơ, vè, thì số người chết khoảng “một muôn hai” (tức khoảng 12.000 người).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sinh thái ===&lt;br /&gt;
Gò Công có hệ sinh thái phong phú, đặc biệt là hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển. Rừng ngập mặn tại các xã như Tân Thành và Vàm Láng có diện tích khoảng 1.210 ha, bao gồm cả rừng phòng hộ và bãi bồi ven biển. Hệ sinh thái này không chỉ là nơi sinh sống của nhiều loài động, thực vật, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển và phát triển du lịch sinh thái.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với bờ biển dài và hệ thống sông ngòi chằng chịt, Gò Công có tiềm năng lớn trong nuôi trồng và khai thác thủy sản. Các loài thủy sản nước lợ như tôm, cua, cá, sò, nghêu... có trữ lượng hàng năm ước tính khoảng 156.000 tấn tại các vùng cửa sông. Kinh tế biển không chỉ đóng góp vào thu nhập của người dân mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm và phát triển bền vững cho địa phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm Ất Tỵ (năm 1905), Gò Công bị nạn “[[Hoàng Trùng|hoàng trùng]]” (giặc châu chấu) phá hoại mùa màng khoảng gần nửa tháng, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp rất nặng nề. Người ta cho rằng, loài châu chấu này từ châu Phi tràn đến, chúng bay rợp trời, có đến hàng mấy triệu con mỗi đàn, đậu đáp ở đâu thì chỗ đó cây cỏ “trơ xương”, trụi lá. Năm sau thì bị nạn “[[Bạch Đồng|bạch đồng]]”. Suốt từ tháng 6 âm lịch đến tháng 10 năm Bính Ngọ (năm 1906) trời trong xanh, không có lấy một giọt mưa. Ban đêm sao sáng đầy trời. Khô hạn nhằm vào lúc nông dân sửa soạn làm lễ hạ điền, xuống giống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Du lịch ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Image-74.jpg|nhỏ|[[Dinh Chánh Tham Biện Gò Công]]]]&lt;br /&gt;
Gò Công đang phát triển du lịch sinh thái biển, kết hợp với văn hóa, lịch sử của vùng đất. Các điểm du lịch như Khu du lịch biển Tân Thành, vườn táo, di tích lịch sử cấp quốc gia và các cù lao ven biển thu hút du khách trong và ngoài tỉnh. Việc phát triển du lịch sinh thái không chỉ bảo tồn giá trị tự nhiên mà còn nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công có nhiều địa điểm du lịch văn hóa và sinh thái nổi bật, bao gồm: [[Dinh Đốc phủ Hải]] (Nhà Đốc Phủ Hải), [[Khu du lịch biển Tân Thành|Biển Tân Thành]] (Biển Gò Công), [[Đình Trung]], [[Lăng Hoàng Gia]] ([[Phạm Đăng Hưng|Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng]]), [[Đền thờ Trương Định|Đền thờ]] và [[Lăng mộ Trương Định|Lăng mộ]] anh hùng dân tộc [[Trương Định]], [[Mộ Bát Lăng]], [[Đình Tân Đông]] ([[Đình Gò Táo]]), [[Dinh Tỉnh Trưởng]] Gò Công, [[Khu du lịch sinh thái Làng Yến]], [[Khu mộ Đá Ong (Khu mộ Bà Tương)]], [[Miếu Võ Quốc Công|miếu thờ Võ Tánh]]...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Đặc sản - Ẩm thực ==&lt;br /&gt;
Gò Công là vùng đất nổi tiếng với nhiều đặc sản mang đậm hương vị Nam Bộ. Trong đó, sơ ri Gò Công và mắm Gò Công là hai sản vật tiêu biểu gắn liền với đời sống và văn hóa ẩm thực địa phương. [[Sơ ri Gò Công]] được trồng chủ yếu ở xã Tân Trung, Bình Xuân và phường 2, thị xã Gò Công, nổi tiếng nhờ trái nhỏ, vỏ mỏng, vị ngọt thanh và giàu vitamin C. Giống sơ ri này đã trở thành thương hiệu đặc trưng của vùng đất Gò Công ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Mắm Gò Công]] có nhiều loại như mắm tôm chua, mắm cá linh, mắm cá sặc... được chế biến theo phương pháp truyền thống, giữ nguyên hương vị mặn mòi của biển và đồng ruộng. Mắm Gò Công không chỉ là món ăn dân dã trong bữa cơm Nam Bộ mà còn là đặc sản được du khách tìm mua làm quà. [[Sam biển Gò Công]], [[Nghêu Gò Công]] là một loại hải sản đặc sản nổi bật ở vùng biển xã Vàm Láng, Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. [[Bánh giá Gò Công|Bánh vá]], còn gọi bánh giá, là món ăn đặc sản chỉ thấy ở Gò Công (Tiền Giang), đặc biệt nổi tiếng tại Chợ Giồng (Gò Công Tây).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đặc sản khác: [[Vọp Gò Công]], [[Nham Gò Công]], [[Hủ tíu Gò Công]], [[Tôm xe cán]], [[Bông lục bình]], [[Cá bống dừa]], [[Gỏi Nham Gò Công]], [[Dưa hấu Gò Công]], [[Chè Sơn Qui]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Văn chương - Thơ ca&amp;lt;ref&amp;gt;Tham khảo https://ca-dao.com/&amp;lt;/ref&amp;gt; ==&lt;br /&gt;
Gò Công cũng có nhiều cây bút Hán Nôm khá nổi tiếng như Tú tài [[Trần Văn Hội]] (Tú Hội), [[Trần Quang Hùng]] (Chủ Hùng), [[Ông Chủ Sự Thiều|Trần Đình Thiều]] (Chủ sự Thiều), [[Huỳnh Đình Nguơn|Huỳnh Đình Ngươn]]... Một số bài thơ Nôm của Huỳnh Đình Ngươn hiện còn được lưu giữ là [[Bóng người|Bóng người,]] [[Uống rượu say]], Cọp vẽ, [[Đi xe lửa]], Ngựa sút chuồng bị phạt, đặc biệt là bài cửu thủ liên hoàn Du hoạn ư Tho giang cảm tác... Khi ông mất, 20 năm sau, Lê Sum đã phiên âm bài nầy ra chữ quốc ngữ và in trong Việt âm Văn uyển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây cũng là quê hương của nữ thi sĩ [[Nguyễn Thị Kiêm|Lê Thị Kim]] (nữ sĩ [[Nguyễn Thị Manh Manh|Manh Manh]]) và [[Phan Thị Bạch Vân]], chủ nhân Nữ lưu thơ quán Gò Công.  &lt;br /&gt;
=== Thơ về Gò Công&amp;lt;ref&amp;gt;Thơ về Gò Công https://gocong.org/book/tuyen-tap-tho-go-cong/&amp;lt;/ref&amp;gt; ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca ====&lt;br /&gt;
Gò Công cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều thi sĩ. Nhà thơ Nguyễn Liên Phong đã viết trong [[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca]]:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Thanh lịch Gò-công xứ biết chơi,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Địa linh nhơn kiệt quả như lời.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Vỏ-công hùng cứ bia ngàn thuở,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Phạm-Tộc phủ thờ quới một nơi.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Phát trước nhiều ông danh tiếng rạng,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Nối sau chán kẻ hiển vinh đời.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Năm thìn ruổi mắc cơn giông bão,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Dựng lại bằng xưa cũng phước trời.&lt;br /&gt;
[[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca|Đọc thêm]]&amp;lt;/blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Kỷ niệm Gò Công ====&lt;br /&gt;
Bài thơ này ca ngợi vẻ đẹp thanh lịch và truyền thống văn hóa của Gò Công. Ngoài ra, nhà thơ Bùi Giáng trong bài &amp;quot;[[Kỷ niệm Gò Công (Bùi Giáng)|Kỷ niệm Gò Công]]&amp;quot; cũng đã viết:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Bên vườn ngày ấy có mai&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nở hoa bên trúc một ngày đầu xuân&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ấy ngày tôi đến Gò Công&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ba mươi năm vẫn còn mong trở về&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Về xem trở lại sơn khê&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò Công còn có như ngày đầu tiên&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Bên vườn còn bóng thuyền quyên?&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Đi về phảng phất thần tiên điệu đàn&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Về sau bỗng gặp muôn vàn&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Giấc trưa giờ ngọ một nàng Tiên Ngâu&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nàng tiên ấy đã đi đâu&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Hay còn lẩn quất giữa màu lá cây?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Kỷ niệm Gò Công (Bùi Giáng)|Đọc thêm]]&lt;br /&gt;
&amp;lt;/blockquote&amp;gt;Bài thơ này thể hiện nỗi nhớ và tình cảm sâu sắc của tác giả đối với Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Hồn đất Gò Công ====&lt;br /&gt;
Bài thơ viết về những tên gọi Gò Công theo thời gian&amp;lt;ref&amp;gt;Bài “Hồn đất Gò Công” là một trường ca địa – sử – văn hóa, viết theo lối biên niên bằng thơ, kết hợp giữa địa chí, sử ký và cảm thức thi ca. Bài thơ nhằm ghi lại lịch sử tên gọi và thân phận hành chính của đất Gò Công qua các thời kỳ, nhưng không viết bằng văn xuôi khô cứng mà bằng hồn thơ địa linh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây không chỉ là bài thơ “kể tên”, mà là bản tuyên ngôn mềm về căn tính Gò Công.&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò Công, vùng đất tứ linh;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Cánh chim nhạn trắng, đượm tình biển khơi.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Mênh mang sóng vỗ muôn đời;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gió đưa gió đẩy, về nơi ăn còng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khổng Tước Nguyên, thuở sơ phong;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò cao rợp bóng chim Công lượn vòng.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Rừng xanh cây trái đơm bông;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Dấu xưa ghi tạc giữa lòng núi sông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngược dòng lịch sử ghi lòng;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Lôi Lạp thuở ấy, khơi dòng khởi nguyên.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Tên xưa phủ cũ, lưu truyền;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Vạn trường khuất nẻo, biến thiên đổi dời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Hồn đất Gò Công|Đọc thêm]]&amp;lt;/blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Ca dao ===&lt;br /&gt;
Một trong những câu ca dao nổi tiếng về Gò Công là:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&amp;quot;Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,&amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gió nào độc bằng gió Gò Công.&amp;quot;&amp;lt;/blockquote&amp;gt;Câu ca dao này không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của Gò Công mà còn phản ánh sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Có đứa nào xạo bằng thằng Út Gò Công&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh đi đóng đáy Bãi Ngang&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ngó qua Láng Lộc thấy nàng lượm tôm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai về Tân Phước Rạch Già&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gởi con cá lóc hái cà nấu canh&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh đi chuyến gạo Gò Công,&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Anh về Bao Ngược&amp;lt;ref&amp;gt;&#039;&#039;Vàm Bao Ngược: Tên cửa sông tiếp giáp giữa sông Vàm Cỏ và sông Soài Rạp, thuộc địa phận huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Lòng sông ở đây sâu, nước chảy mạnh, thường có sóng to gió lớn, nên trước đây thường xảy ra tai nạn đắm thuyền.&#039;&#039;&amp;lt;/ref&amp;gt;, bị giông đứt buồm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh ơi về tới Gò Công&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nhớ mua bánh giá chợ Giồng tặng em&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây cũng là quê hương của nhà văn [[Hồ Biểu Chánh]], nhà văn Sơn Vương... Trong những năm 1925-1930, tại đây đã có Nhà xuất bản Nữ lưu thơ quán của [[Phan Thị Bạch Vân]] nổi tiếng toàn quốc, tập hợp nhiều cây bút tiến bộ đương thời cổ động cho nữ giới mở mang học vấn và bảo vệ luân lý đạo đức.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Âm Nhạc ==&lt;br /&gt;
[[File:Mẹ Gò Công - Bảo Yến.mp4|thumb|400px|Mẹ Gò Công - Bảo Yến - [[:Thể loại:Nhạc Gò Công|Nhạc Gò Công]]]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vùng đất Gò Công là nơi sản sinh ra nhiều nhạc sĩ tài năng, góp phần làm phong phú nền âm nhạc trữ tình Việt Nam, đặc biệt là dòng nhạc quê hương, tiền chiến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai tên tuổi tiêu biểu là nhạc sĩ [[Lê Dinh]] và [[Hoàng Phương]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Lê Dinh]] (1934 – 2020), thành viên của nhóm Lê Minh Bằng nổi tiếng, là tác giả của nhiều ca khúc được yêu mến như &#039;&#039;Tình yêu trả lại trăng sao&#039;&#039;, &#039;&#039;Bảo Tố&#039;&#039;, và là người thầy dạy nhạc cho nhạc sĩ Hoàng Phương.&lt;br /&gt;
* [[Hoàng Phương]] (1943 – 2002) được mệnh danh là &amp;quot;Ông hoàng nhạc Gò Công&amp;quot; với những sáng tác mang âm hưởng dân ca, trữ tình sâu lắng. Tác phẩm nổi bật nhất của ông là &amp;quot;Hoa sứ nhà nàng&amp;quot; (&#039;&#039;Hoa sứ nhà em&#039;&#039;) đã &amp;quot;làm mưa làm gió&amp;quot; khắp nơi, cùng với &amp;quot;[[Mẹ Gò Công]]&amp;quot;, &amp;quot;[[Chuyện tình hoa muống biển]]&amp;quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tác phẩm của những nhạc sĩ Gò Công, đặc biệt là nhạc của Hoàng Phương, đã được nhiều ca sĩ tên tuổi thể hiện thành công, trong đó có Bảo Yến (người đã góp phần làm nên tên tuổi cho băng nhạc Gò Công nổi tiếng thập niên 1980) và Phương Dung.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những sản phẩm độc đáo của vùng Gò Công như: điệu [[Lý Con Sáo Gò Công|lý con sáo Gò Công]], vẫn còn được lưu giữ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Ghi chú ==&lt;br /&gt;
&amp;lt;references /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tài liệu tham khảo ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Việt Cúc: [[Gò Công cảnh cũ người xưa]], Tự xuất bản 1969&lt;br /&gt;
* Girmeld Monographie de province de Go Cong 1936, Tham biện Chủ tỉnh Gò Công, Người dịch: Huỳnh Văn Phát.&lt;br /&gt;
* Huỳnh Minh: [[Gò Công xưa|Gò Công xưa và nay]], NXB Cánh Bằng, 1969.&lt;br /&gt;
* Gia phả họ Trần (bản chữ Quốc ngữ), Gia pháp gia đình họ Trần – Gò Công (họ Trần của bà Trần Thị Sanh, người vợ thứ của Trương Định)&lt;br /&gt;
* [[Gia Định Thành Thông Chí|Gia Định thành thông chí]] (嘉定城通志) hay &#039;&#039;Gia Định thông chí&#039;&#039; (嘉定通志) là một quyển địa chí của Trịnh Hoài Đức (1765-1825) viết về miền đất Gia Định bằng chữ Nho và chữ Nôm, là một sử liệu quan trọng về Nam Bộ thời nhà Nguyễn.&lt;br /&gt;
* [[Nam Kỳ Và Cư Dân Các Tỉnh Miền Đông|Nam kỳ và cư dân: Các tỉnh miền Đông]] - J. C. Baurac&lt;br /&gt;
* [[South Vietnam]] - Official Standard Names Approved by the United States Board on Geographic Names, 1971&lt;br /&gt;
* [[Địa chí Tiền Giang]] - Trần Hoàng Diệu, Nguyễn Anh Tuấn, 2005&lt;br /&gt;
* [[Tự vị tiếng nói miền Nam]] - Vương Hồng Sến, 1998&lt;br /&gt;
* [[Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ]] - Nguyễn Đình Tư, 2008&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Vọng Tiếng Đất Lành]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Lặng Thầm Hương Sắc]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Thao Thức Dấu Xưa]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Từ Làng Thành Phố]] - Phan Thanh Sắc, 2022&lt;br /&gt;
* [[Địa Phương Chí và Luật Đường Bộ tỉnh Gò Công đầu thế kỷ XX]] - Võ Văn Hải, 2025&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thống kê ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;p&amp;gt;Chúng ta có khoảng &#039;&#039;&#039;{{NUMBEROFPAGES}}&#039;&#039;&#039; trang nội dung các loại&amp;lt;/p&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;p&amp;gt;&#039;&#039;&#039;Mời đóng góp:&#039;&#039;&#039; [[Đặc biệt:Trang cần thiết|Trang cần viết]]&amp;lt;/p&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;div style=&amp;quot;background: aliceblue;padding: 15px;border: 1px solid #4054af;border-radius: 3px;color:#ed5381; margin-bottom:15px&amp;quot;&amp;gt;Trang nầy có một số thông tin ngắn gọn (ví dụ như tiểu sử [[Nam Phương Hoàng hậu]]). Vì vậy hãy tìm thêm trên trang chính https://gocong.org/search để xem những bài viết dài, phân tích chi tiết hơn.&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Tờ Hà Thành Ngọ Báo số ra ngày 11 tháng 06 năm 1934 trong mục Tin Kinh đô đã thông tin về việc Hoàng đế Bảo Đại cải chính danh hiệu của Nam Phương Hoàng hậu.&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Theo bài báo, ban đầu Hoàng đế Bảo Đại đã hạ chỉ dụ đặt danh hiệu là NAM HƯƠNG HOÀNG HẬU với ý nghĩa “Hương thơm từ phương Nam” (Parfum du Sud – 南香皇后). Tuy nhiên khi một viên Chấp sự trong Nội các ghi lại bằng chữ quốc ngữ đã chép nhầm chữ HƯƠNG thành chữ PHƯƠNG, và từ đó cái tên NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU đã được sử dụng cho đến nay dù danh hiệu này… sai so với ý gốc của Hoàng đế?&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Tên theo Việt ngữ của Hoàng Hậu là Nguyễn Thị Lan chứ không phải Nguyễn Hữu Thị Lan. Trường hợp Nguyễn Hữu này cũng tương đồng với trường hợp Ngô Đình sau này. Hậu thế chỉ vì muốn&#039;&#039; &#039;&#039;ca tụng cá nhân nên tự ý thêm chữ này chữ kia vào danh tính cho ra vẻ sang cả quý phái, trái với sự thực trong lịch sử. Làm gì có Nguyễn Hữu Thị Lan?&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&amp;lt;/div&amp;gt;&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Nam_Ph%C6%B0%C6%A1ng_Ho%C3%A0ng_h%E1%BA%ADu&amp;diff=3005</id>
		<title>Nam Phương Hoàng hậu</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Nam_Ph%C6%B0%C6%A1ng_Ho%C3%A0ng_h%E1%BA%ADu&amp;diff=3005"/>
		<updated>2026-09-09T15:17:24Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;=== (1914 – 1963) ===&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Tờ Hà Thành Ngọ Báo số ra ngày 11 tháng 06 năm 1934 trong mục Tin Kinh đô đã thông tin về việc Hoàng đế Bảo Đại cải chính danh hiệu của Nam Phương Hoàng hậu.&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Theo bài báo, ban đầu Hoàng đế Bảo Đại đã hạ chỉ dụ đặt danh hiệu là NAM HƯƠNG HOÀNG HẬU với ý nghĩa “Hương thơm từ phương Nam” (Parfum du Sud – 南香皇后). Tuy nhiên khi một viên Chấp sự trong Nội các ghi lại bằng chữ quốc ngữ đã chép nhầm chữ HƯƠNG thành chữ PHƯƠNG, và từ đó cái tên NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU đã được sử dụng cho đến nay dù danh hiệu này… sai so với ý gốc của Hoàng đế?&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Tên theo Việt ngữ của Hoàng Hậu là Nguyễn Thị Lan chứ không phải Nguyễn Hữu Thị Lan. Trường hợp Nguyễn Hữu này cũng tương đồng với trường hợp Ngô Đình sau này. Hậu thế chỉ vì muốn&#039;&#039; &#039;&#039;ca tụng cá nhân nên tự ý thêm chữ này chữ kia vào danh tính cho ra vẻ sang cả quý phái, trái với sự thực trong lịch sử. Làm gì có Nguyễn Hữu Thị Lan?&#039;&#039;[[Tập tin:Anh-cuc-quy-ve-ve-dep-tuyet-sac-cua-nam-phuong-hoang-hau.jpg|nhỏ|Nam Phương Hoàng hậu]]&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;Dòng dõi hoàng hậu Nam Phương&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Philippe Lê Phát Đạt (1841-1900) và Huỳnh Thị Tài (1845-1920) sinh ra 7 người con sau: Nicolas Lê Phát Tân (1860-1949), Jean Baptiste Lê Phát Thành (1864-1948), Denis Lê  Phát An (1868-1946), Pierre Lê Phát Vinh (1878-1957), Marie Lê Thị Bình (1879-1964)  và hai con gái khác không biết tên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;I-Nhánh Marie Lê Thị Bình&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bà Marie Lê Thị Bình có chồng tên Pierre Nguyễn Hữu Hào (1870-1937). Hai người có hai  con gái sau: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1-Agnès Nguyễn Hữu Hào (1903-1998), chồng là bá tước Pierre Didelot, người Pháp.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2-Jeanne-Marie Nguyễn Thị Lan (1913-1963), tức là Nam Hương Hoàng hậu. Nam Phương 南芳có nghĩa là hương thơm ở phía Nam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, Lê Phát Đạt là ông ngoại của Nam Phương. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ông Lê Phát Đạt theo đạo Cơ đốc giáo (Thiên chúa), thời trẻ du học ở Penang Mã Lai. Ông  có nhiều đồn điền lớn ở Nam bộ và thành viên đầu tiên của Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ  (Conseil colonial) thành lập năm 1880. Ông thuộc thành phần người giàu có ở Nam bộ và  đương nhiên có quốc tịch Pháp. Nhà thờ Huyện Sỹ ở Chợ Đuĩ Saigon, nhà thờ Chí Hoà  (quận 10) và nhà thờ Hạnh Thông Tây (Gò Vấp) là do chính ông xây cất. Dân gian đương thời có câu: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa“ (có nơi chép tứ  Trạch, tức là hội đồng Trạch Bạc Liêu). Sỹ là Huyện Sỹ Lê Phát Đạt, Phương là Tổng đốc  Đỗ Hữu Phương (1841-1914), con của bá hộ Khiêm có Pháp tịch năm 1881. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xường tên  thật là Lý Trường Quan (1842-1896), người gốc Minh hương, nhà cũ ở đường Hải thượng  Lãn ông trong Chợ Lớn. Ông hành nghề thông ngôn, thông thạo tiếng Pháp và tiếng Hoa.  Người dân thường gọi ông là bá hộ Xường vì ông là người thứ ba giàu có ở Nam Kỳ. Hoả là  Hui Bon Hỏa, tên chính xác là Hứa Bổn Hòa (1845-1901), người gốc Hoa. Ba công trình đồ  sộ do ông để lại cho dân Saigòn là bệnh viện Từ Dũ, biệt thự gia đình về sau trở thành viện  bảo tàng Mỹ thuật ở đường Phó Đức Chính và khách sạn hạng sang Majestic. &lt;br /&gt;
[[Tập tin:Ảnh Nam Phương Hoàng hậu do AI phục dựng.png|nhỏ|Ảnh Nam Phương Hoàng hậu do AI phục dựng]]&lt;br /&gt;
Có lẽ phải nói thêm người giàu có thứ năm đương thời là Hội đồng Trạch ở Bạc Liêu. Ông  tên thật là Trần Trinh Trạch (1872-1942). Thuở hàn vi, ông giữ trâu cho một bá hộ điền  chủ giàu có ở Bạc Liêu. Nhờ đi học thay cho con trưởng của ông điền chủ nên trở thành  thầy ký toà bố rồi “ẩm“ luôn một con gái của một bá hộ khác tên Phan Văn Bí. Từ đó trở  đi, ông thu mua đất đai của những điền chủ “thất cơ lỡ vận“. Khoảng 1930-1940, tài sản  của ông lên đến 100.000 hecta ruộng lúa và gần 100.000 hecta ruộng muối. Biệt thự tráng  lệ của ông ở Bạc Liêu ngày nay trở thành điểm tham quan du lịch củ tỉnh. Điều bất hạnh  cho ông là người con thứ ba Trần Trinh Huy (1900-1974) còn gọi là công tử Bạc Liêu phá  của đến khánh kiệt đến nỗi con cháu trở nên nghèo khó, có người phải chạy xe ôm để  sống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nguyễn Hữu Hào, cha của Nam Phương, người gốc Gò Công xuất thân trong một gia đình  khiêm tốn. Ông theo đạo công giáo và hành nghề thầy ký giữ sổ sách (Commis aux  écritures) biết tiếng Pháp. Cuộc đời của ông “lên hương“ nhờ sự giới thiệu của giám mục  Mossat của Hội truyền giáo nước ngoài ở Saigon (Missions étrangères de Paris) cho ông &#039;&#039;&#039; &#039;&#039;&#039;Lê Phát Đạt để giữ sổ sách. Rồi sau đó nhờ làm việc chăm chỉ siêng năng nên ông được Lê  Phát Đạt cho phép cưới con gái “rượu“ Marie Lê Thị Bình. Trước khi sắp qua đời năm  1937, Nguyễn Hữu Hào được chính quyền thuộc địa phong tặng huân chương Bắc đẩu Bội  tinh (Légion d’honneur). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày phong hàm có sự tham dự của thống đốc Nam Kỳ Pierre  Pagès và nhiều quan chức thuộc địa. Đương nhiên, Bảo Đại và Nam Phương cùng cả họ  hàng trong gia đình cũng có mặt. Bảo Đại còn phong cho cha vợ mình chức “Quận công  Long Mỹ“, tên một huyện của Rạch Giá, nơi Nguyễn Hữu Hào có nhiều đồng ruộng. Agnès Nguyễn Hữu Hào được sang Pháp năm 1920 du học ở trường “Dòng Đức Bà“  (Congrégation de Notre Dame) ở phố Lincoln Paris rồi về sau định cư luôn sau khi lấy  chồng với bá tước Didelot. Năm 1922, cả gia đình Nguyễn Hữu Hào có sang Paris thăm  Agnès. Năm 1927, Nguyễn Hữu Thị Lan cũng được gửi sang du học nhưng ở “Ký túc xá bà  xơ“ (Couvent des Oiseaux) ở 60 phố Ponthieu Paris cho đến tháng 9-1932 thì về nước.  Trường này do các nữ tu điều khiển không những dạy theo chương trình Nhà nước mà  còn dạy cung cách nghi lễ quý phái. Về sau, Nam Phương cũng bắt chước thành lập một  “Couvent des Oiseaux“ ở Đà Lạt. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một cách tình cờ, tháng 9-1932, Nguyễn Hữu Thị Lan về cùng chung chuyến tàu  d’Artagnan của hãng Messageries Maritimes với hoàng tử Vĩnh Thuỵ về nước để lên ngôi  hoàng đế. Khi vua cha Khải Định băng hà ngày 6-11-1925, hoàng tử Vĩnh Thuỵ lên ngôi  thế cha vào ngày 8-1-1926 rồi trở lại Pháp tiếp tục học hành. Triều đình do thượng thư bộ  Hình (Tư Pháp) Tôn Thất Hân (1853-1944) và thượng thư bộ Lễ Nguyễn Hữu Bài (1863- 1935) làm nhiếp chính trong thời gian vua Bảo Đại vắng mặt. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào thời đó, Vĩnh Thuỵ và Nguyễn Hữu Thị Lan chưa biết nhau ở Paris. Phải đợi khi về  nước, hai người mới biết nhau ở Đà Lạt qua sự sắp xếp của gia đình với sự đồng loã của  chính quyền thuộc địa. Cuối cùng, hai người kết hôn ngày 20-3-1934 tại điện Cần Chính ở  Huế. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dù vậy, cuộc hôn nhân này gặp không ít trắc trở vào lúc ban đầu. Lần đầu tiên, trong triều  đình nhà Nguyễn, hoàng hậu là người công giáo trong khi vua theo truyền thống là Khổng  giáo nếu không nói là Phật giáo. Trong triều đình, Hoàng thái hậu Từ Cung và đại thần  nhiếp chính Tôn Thất Hân cũng như đa số quan lại chống đối cuộc hôn nhân này. Về phía  gia đình Nguyễn Hữu Thị Lan, mọi người không ai đồng ý con mình phải bỏ đạo, thậm chí  còn đòi Bảo Đại phải theo đạo vợ!. Ngoài ra, tục lệ công giáo bắt buộc người chồng hay vợ  không có đạo phải nhập đạo công giáo. Do vua không thể theo đạo công giáo, tân lang  không muốn bỏ đạo của mình, tình trạng trở nên bế tắc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do Bảo Đại là vua của một nước, lối thoát duy nhất là xin phép Giáo hoàng Pie XI cho phép  “trường hợp đặc biệt“. Đại sứ Pháp bên cạnh Vatican được giao phó nhiệm vụ làm áp lực  với người thân cận của Giáo hoàng. Lúc ban đầu, Giáo hoàng không đồng ý!. Sau nhiều lần  bị làm áp lực, Giáo hoàng cuối cùng đồng ý với hai điều kiện: một là hoàng hậu vẫn giữ  đạo công giáo, hai là các con phải được làm lễ rửa tội (baptisé). Nói một cách khác là phải  vào đạo thiên chúa!. Nếu việc hoàng hậu giữ đạo của mình, vấn đề không gặp khó khăn,  trái lại việc con cái phải rửa tội trở thành nan giải. Vì lẽ là con khi nối ngôi vua cha không  thể là người công giáo. Như vậy phải làm sao?. Trong một thời gian, mọi người đều nghĩ  rằng cuộc hôn nhân không thể thành hình nhưng vua Bảo Đại quyết tâm thực hiện cho kỳ  được và có ý định coi thường (passer outre) lệnh Giáo hoàng. Nhưng các quan chức thân  gần cho đây không phải là ý kiến hay. Cuối cùng Bảo Đại phải nhượng bộ. Nhưng thay vì  rửa tội công khai thì làm rửa tội “thầm lén“!. Về sau, có nhiều người hỏi Nam Phương và  Bảo Long (con trưởng) về việc này thì được trả lời “không có“!. Năm 1939, trong chuyến  trở lại Pháp, Nam Phương được Giáo hoàng mới Pie XII trọng thể tiếp đón. “Chuyện cũ“  với Giáo hoàng Pie XI được coi như thuộc về quá khứ và Nam Phương được chính thức hoá là người công giáo. Điều này làm một số quan chức trong triều bất mãn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một cách nghịch lý, Bảo Đại vào cuối đời khi cưới bà Monique Baudot năm 1972, người  công giáo, phải vào đạo với tên thánh Jean-Robert trước khi qua đời ngày 31-7-1997 ở  bệnh viện Val de Grâce Paris và được chôn cất ở nghĩa trang sang Passy ở Paris. Cần phải nói thêm rằng trong lịch sử triều Nguyễn, chưa có ai được tấn phong hoàng hậu  khi vừa kết hôn với vua. Trước đó, 12 bà Hoàng của cung đình chỉ được tấn phong là  Vương Phi. Họ chi được trở thành hoàng hậu khi nhà vua băng hà. Lại nữa, do Bảo Đại  trước đỏ huỷ bỏ chế độ đa thê nên chỉ có con vợ chính mới có thể kế tục vua trái với tục lệ  truyền thống theo đó vua có thể truất ngôi con của vợ chính. Trường hợp của Nam  Phương thật có nhiều biệt lệ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;II-Cuộc sống của Nam Phương vào cuối đời&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Việt Minh cướp chính quyền tháng 8-1945, Bảo Đại ra Hà Nội làm “cố vấn“ cho HCM  thì Nam Phương và các con về sống ở biệt thự An Định. Mãi đến hai năm sau, Nam  Phương và các con mới sang Hongkong ngày 1-9-1947 gặp Bảo Đại đang lưu vong ớ đó.  Ngày 9-9-1947, Nam Phương và Bảo Đại có tiếp đoàn đại biểu ba Kỳ sang Hongkong với  mục tiêu tìm giải pháp Bảo Đại về nước chấp chính. Ngày 25-10-1947, Nam Phương và  các con sang Pháp cư trú ở lâu đài Thorenc, ngoại ô thành phố Cannes thuộc miền nam  nước Pháp. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau một thời gian dài sống chung với Bảo Đại từ năm 1947 đến năm 1958 ở lâu đài  Thorenc (lâu đài bán năm 1960 vì Bảo Đại cần tiền), Nam Phương vào cuối đời buồn nản  ra sống riêng vì Bảo Đại có cuộc sống phóng đãng với nhiều phụ nữ và cờ bạc đến sạch tuí.  Bà về sống một mình ở Chabrignac, một làng nhỏ thuộc tỉnh Corrèze, miền trung nước  Pháp. Ở đây bà mua một đồn điền 100 hec-ta có tên “La Perche“ và sống như người “nông  dân“ địa phương. Bà qua đời ở đó ngày 15-9-1963 sau một cơn bệnh ngắn, hưởng thọ 50  tuổi. Bà bị nghẹt thở hay viêm tấy (Phlegmon). Bà được chôn cất ở nghĩa trang công cộng  gần đó. Về sau, tro của Bảo Long và Bảo Thắng (con Ủt) cũng được đưa về đó. Đồn điền  của bà được ông André Mourand mua lại năm 1964 rồi sau đó bán lại cho người khác  năm 1970. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày qua đời của Nam Phương, Bảo Đại và các con có mặt cùng với những người thân gần  tham dự tang lễ. Chính quyền địa phương có tỉnh trưởng đại diện. Phía người Việt Nam có  chị Agnès Didelot và chồng, hoàng thân Bửu Lộc, hoàng thân Vĩnh Cẩn, tướng Nguyễn Văn  Hinh, cựu bí thư của Nam Phương Nguyễn Tiến Lãng và Trần Kim Tuyến. Mẹ của Nam  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phương, bà Marie Lê Thị Bình lúc đó ở Neuilly do tuổi cao (84 tuổi) không thể tham dự.  Ngoài ra, công chúa Như Lý (1908-2005) con vua Hàm Nghi cư ngụ ở Vigeois cùng tỉnh  Corrèze cách đó không xa do chồng François Barthomivat (quận tước de la Besse) đại  diện. Tương truyền nói rằng công chúa Như Lý không muốn gặp Nam Phương vào lúc  sinh thời vì vua Hàm Nghi bị lưu đày do chống Pháp còn Bảo Đại thì thân Pháp. Lại nữa, lý  lịch Bảo Đại, con vua Khải Định còn “mù mờ“. Công chúa Như Lý là bác sĩ Y khoa thành  hôn với quận công François de la Besse. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;III-Sau đây là 5 con của Nam Phương với Bảo Đại&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1-Nguyễn Phúc Bảo Long sinh tại Huế ngày 4-1-1936 và qua đời ngày 28-7-2007 ở Sens  (Pháp). Lúc thiếu thời, Bảo Long, năm 1948, được gửi nội trú ở Collège des Roches ở  Maslacq, một làng nhỏ thuộc tỉnh Pau. Đó là một trường tư dạy theo cơ đốc giáo. Sau khi  có tú tài toàn phần thì được gửi vào học trường quân sự Saint-Cyr, ngoại ô Paris rồi tiếp  tục học trường kỵ binh Saumur. Sau khi ra trường, Bảo Long tình nguyện đăng ký làm sĩ &#039;&#039;&#039; &#039;&#039;&#039;quan Lê Dương (Légion étrangère) đi phục vụ ở Algeria trong 10 năm. Về Paris, ông tiếp  tục học trường Khoa học Chính trị (Sciences Po) rồi hành nghề chuyên viên ngân hàng. Về  đời tư, Bảo Long có chung sống với một phụ nữ tên Isabelle Marry có nhiều đời chồng và  có con riêng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2-Nguyễn Phúc Phương Mai sinh tại Đà Lạt ngày 1-8-1937, có trình độ trung học. Lúc  thiếu thời, Phương Mai cũng được gửi đi học ở Couvent des Oiseaux. Năm 1971, Phương  Mai kết hôn với Pietro Badoglio, cháu nội của nguyên soái Badoglio, có lúc là thủ tướng  nước Ý. Hai người có một con Flavio (1973). Sách thường ghi chép người con gái Manuela  (1959) là con của Pietro Badoglio với Phương Mai nhưng không đúng. Phương Mai trước  khi lấy chồng có con riêng với một người Anh. Khi chồng Pietro qua đời năm 1992,  Phương Mai về Pháp sống ở Louveciennes, một ngoại ô sang trọng của Paris. Phương  Dung về sau cũng về đó sống chung với chị.  [Công chúa Phương Mai qua đời ngày 16-1-2021 ở Louveciennes] &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3-Nguyễn Phúc Phương Liên sinh tại Đà Lạt ngày 3-11-1938, có tú tài toàn phần. Lúc  thiếu thời cũng học ở Couvent des Oiseaux ở Neuilly, ngoại ô sang Paris. Bà kết hôn với  Bernard Soulan, chủ ngân hàng ở Bordeaux. Phương Liên hành nghề chuyên viên ngân  hàng. Hai người có hai con gái Valérie sinh năm 1963 và Caroline sinh năm 1966. Ông  Soulan qua đời năm 2017. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4-Nguyễn Phúc Phương Dung sinh tại Huế ngày 5-2-1942, có tú tài toàn phần. Lúc thiếu  thời cũng học ở Couvent des Oiseaux ở Neuilly. Có chồng một doanh nhân người Pháp đã  qua đời. Hai người có một con trai tên Benjamin Phương Nguyễn. Phương Dung hành  nghề chuyên gia về trẻ con. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5-Nguyễn Phúc Bảo Thắng sinh tại Đà Lạt ngày 30-9-1943 và qua đời ở Paris ngày 15-3- 2017. Lúc thiếu thời, Bảo Thắng cũng được gửi học Viện Stanilas ở Cannes, một chi ngánh  của Viện Stanilas Paris, một trường công giáo. Người ta không biết gì nhiều về người con  Út này. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nói tóm lại, các con của Nam Phương đều theo học trường công giáo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;Thay lời kết&#039;&#039;&#039; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nam Phương còn được gọi là Hương thơm miền Nam trong gia đình vọng tộc có tiếng ở  Nam Bộ, thuộc loại người biệt lệ. Bà là người độc nhất theo đạo công giáo được phong  hoàng hậu khi còn sống của triều đình nhà Nguyễn. Bà một thời sống trong nhung lụa bên  cạnh một nhà vua phóng đãng. Thế nhưng, khi chính biến năm 1945, bà sống trong sợ hãi  gần hai năm để vào cuối đời sống trong buồn nản rồi qua đời không có thân nhân bên  cạnh ở tuổi hồi xuân vừa đúng 50. Thật là đáng cảm kích và thương tâm.&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tiểu sử]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Trang_Ch%C3%ADnh&amp;diff=3004</id>
		<title>Trang Chính</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Trang_Ch%C3%ADnh&amp;diff=3004"/>
		<updated>2026-09-09T15:09:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: /* Con người */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;big&amp;gt;&#039;&#039;&#039;Gò Công - Bách khoa toàn thư&#039;&#039;&#039;&amp;lt;/big&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Gcoongorgg.jpg|nhỏ|Logo: Nguyen Pham]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Thanh lịch [[Gò Công]] xứ biết chơi,&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;[[Địa linh nhân kiệt|Địa linh nhơn kiệt]] quả như lời.&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Võ công hùng cứ bia ngàn thuở,&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Phạm tộc phủ thờ quới một nơi.&#039;&#039;&amp;lt;ref&amp;gt;[[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca]]&amp;lt;/ref&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công là tỉnh cũ ([[Tỉnh Gò Công]]) ở miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long), Việt Nam. Tỉnh này được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1900, tồn tại vào [[thời Pháp thuộc]] và bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể vào cuối năm 1956. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, sau đó tỉnh Gò Công lại được chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập vào năm 1963, tiếp tục tồn tại và bị mất tên gọi đơn vị hành chính cấp tỉnh từ tháng 2 năm 1976 cho đến 2025 thì bị sáp nhập vào tỉnh Đồng Tháp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tên gọi ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về các tên cũ của vùng đất Gò Công trong lịch sử, nó đã trải qua một số tên gọi và cách gọi khác nhau tùy theo thời kỳ và cách tổ chức hành chính:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable sortable hometable&amp;quot; style=&amp;quot;float:right; max-width:450px;&amp;quot;&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Gò Công&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tra cứu địa điểm Gò Công&lt;br /&gt;
|https://diadiemgocong.com&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Địa lý&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |&#039;&#039;&#039;Tọa độ:&#039;&#039;&#039; 10°22′B 106°40′Đ / 10,36°B 106,66°Đ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Diện tích&lt;br /&gt;
|102,36 km²&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Dân số (2022)&lt;br /&gt;
|151.937 người&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Mật độ&lt;br /&gt;
|1.4843 người/km²&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Dân tộc&lt;br /&gt;
|Chủ yếu là Kinh và Hoa&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Hành chính&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Quốc gia&lt;br /&gt;
|Việt Nam&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Vùng&lt;br /&gt;
|Tây Nam Bộ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Thành lập&lt;br /&gt;
|16/2/1987&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tên gọi&lt;br /&gt;
|Các giả thuyết về [[tên gọi Gò Công]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Bản đồ&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
* [[Bản đồ Gò Công]]&lt;br /&gt;
* [[Thành phố Gò Công]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Khu vực&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công|Vùng Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Lôi Lạp]]&lt;br /&gt;
** [[Huyện Tân Hòa]]&lt;br /&gt;
** [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi]]&lt;br /&gt;
** [[Làng Thành Phố]]&lt;br /&gt;
** [[Tỉnh Gò Công]] ([[Tỉnh Gò Công 1900-1913; 1924-1954|1900-1913; 1924-1954,]] [[Tỉnh Gò Công 1968-1975|1968-1975]], [[Tỉnh Gò Công 1954-1956; 1963-1975|1954-1956; 1963-1975]], [[Quận Gò Công]])&lt;br /&gt;
** [[Thị trấn Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Thị xã Gò Công]] ([[Thị xã Gò Công 2020|2020]])&lt;br /&gt;
** [[Thành phố Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Phường Gò Công]]&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công Đông|Vùng Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
** [[Gò Công Đông|Huyện Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công Tây|Vùng Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
** [[Gò Công Tây|Huyện Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
*[[:Thể loại:Tân Phú Đông|Vùng Tân Phú Đông]]&lt;br /&gt;
**[[Huyện Tân Phú Đông]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Thơ ca - Nghệ thuật&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Ca dao|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Ca dao&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Nhạc Gò Công|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Nhạc Gò Công&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Văn thơ về Gò Công|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Văn thơ về Gò Công&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Văn hóa - Lễ hội&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Văn hóa|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Văn hóa&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Từ địa phương&lt;br /&gt;
| [[:Thể loại:Phương ngữ|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Phương ngữ&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tên gọi - Địa Danh&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Danh xưng|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Danh xưng&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Địa lý|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Địa lý&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Đặc sản - Làng nghề&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Đặc sản|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Đặc sản&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Sản phẩm truyền thống|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Sản phẩm truyền thống&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Khảo cứu&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Tiểu sử|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Tiểu sử&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Tài liệu|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Tài liệu&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Hình ảnh|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Hình ảnh&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Chuyện xưa, Tích cũ|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Chuyện xưa, Tích cũ&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Giao thông - Vị trí&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Đường Sá|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Đường Sá&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Giáo dục|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Giáo dục&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Nhóm Facebook&lt;br /&gt;
|https://www.facebook.com/groups/gocong&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Lôi Lạp]]&amp;lt;ref&amp;gt;Lôi Lạp (雷巤) chính là một tên gọi cũ, mang tính lịch sử của vùng đất Gò Công ngày nay (thuộc tỉnh Tiền Giang).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo các tài liệu lịch sử và địa chí:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vùng đất Lôi Lạp xưa được nhắc đến vào khoảng năm 1757, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lôi Lạp (雷巤) là tên gọi ban đầu của vùng bán đảo Gò Công hiện tại.&amp;lt;/ref&amp;gt; (雷巤): Đây là tên gọi của vùng đất này khi nó còn là một phủ của vương triều Khmer (Chân Lạp) trước năm 1757.&lt;br /&gt;
* [[Huyện Tân Hòa]]: Sau khi được Chúa Nguyễn tiếp quản, vùng Gò Công là một phần của huyện Tân Hòa, thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định. Lúc này, “Gò Công” chỉ là tên của nơi đặt lỵ sở (trung tâm hành chính) của huyện Tân Hòa.&lt;br /&gt;
* [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi]]: Vào thời vua Gia Long (đầu thế kỷ 19), trung tâm thị xã Gò Công ngày nay là hai thôn nhỏ này.&lt;br /&gt;
* [[Làng Thành Phố]]: Đến năm 1885, hai làng Thuận Tắc và Thuận Ngãi được sáp nhập và đổi tên thành “làng Thành Phố”. Đây là một cái tên khá độc đáo và có ý nghĩa quan trọng, cho thấy đây là một đô thị sớm phát triển ở Nam Kỳ.&amp;lt;ref&amp;gt;Gò Công – Bí ẩn Làng thành phố đầu tiên của lục tỉnh – Kỳ 1: Tìm lại dấu xưa Làng thành phố https://gocong.org/go-cong-bi-an-lang-thanh-pho-dau-tien-cua-luc-tinh-ky-1-tim-lai-dau-xua-lang-thanh-pho/&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bóng hình làng Thành Phố https://gocong.org/go-cong-bi-an-lang-thanh-pho-dau-tien-cua-luc-tinh-ky-1-tim-lai-dau-xua-lang-thanh-pho/ &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Pháp lập làng thành phố làm Tỉnh lỵ Gò Công https://gocong.org/phap-lap-lang-thanh-pho-lam-tinh-ly-go-cong/&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* [[Tỉnh Gò Công]]: Trong một số giai đoạn dưới thời Pháp thuộc và thời Việt Nam Cộng hòa, Gò Công được nâng lên thành một tỉnh riêng biệt, với tỉnh lỵ đặt tại làng Thành Phố (sau là [[xã Long Thuận]]).&lt;br /&gt;
* [[Thị xã Gò Công]]: Sau năm 1975, khi các tỉnh sáp nhập để thành lập tỉnh Tiền Giang, Gò Công trở thành thị xã thuộc tỉnh Tiền Giang. Thậm chí có một giai đoạn ngắn (năm 1977-1979), thị xã Gò Công còn bị hạ cấp thành thị trấn Gò Công thuộc huyện Gò Công.&lt;br /&gt;
* [[Thành phố Gò Công]]: Kể từ ngày 1 tháng 5 năm 2024, Thị xã Gò Công đã chính thức được công nhận là Thành phố Gò Công trực thuộc tỉnh Tiền Giang.&lt;br /&gt;
Tên gọi Gò Công còn chỉ:&lt;br /&gt;
* Huyện [[Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
* Huyện [[Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
* Tỉnh cũ Gò Công, tồn tại trong hai giai đoạn 1900-1956 và 1963-1976; nay là một phần tỉnh Tiền Giang&lt;br /&gt;
* Huyện cũ Gò Công, ban đầu thuộc tỉnh tỉnh Mỹ Tho và sau đó thuộc Tiền Giang cho đến năm 1979; tương ứng với địa bàn [[thành phố Gò Công]], Gò Công Đông, Gò Công Tây và [[Tân Phú Đông]] thuộc tỉnh Tiền Giang&lt;br /&gt;
* [[Thị trấn Gò Công|Thị trấn cũ Gò Công]] thuộc huyện Gò Công, tồn tại từ 1977 đến 1987; tương ứng với phường 1 và phường 2 thuộc thành phố Gò Công&lt;br /&gt;
* Địa danh cũ Gò Công thuộc [[tổng Long Vĩnh Hạ]], huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa xưa; nay thuộc phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức.&lt;br /&gt;
[[Tập tin:1881.jpg|nhỏ|Bản đồ Gò Công 1881]]&lt;br /&gt;
=== Thời nhà Nguyễn và đầu thời Pháp thuộc ===&lt;br /&gt;
Chúa Nguyễn Ánh sau khi chạy sang Xiêm, vào năm Đinh-Vị 1787 kéo quân trở về và qua vùng Gò Công (lúc đó thuộc huyện Tân-Hòa, tỉnh Định Tường), ông tiến hành củng cố quyền lực Nam Kỳ. [[Gò Công Được Lập Nền Hành Chánh]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công thuộc huyện [[Tân Hòa]], phủ [[Tân An]], tỉnh [[Gia Định]]. Năm 1885, người Pháp gọi vùng đất này là &amp;quot;[[Làng thành phố]]&amp;quot;, đô thị đầu tiên mang tên thành phố của Nam Kỳ Lục tỉnh, là sự hợp nhất của hai làng [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi|Thuận Tắc và Thuận Ngãi]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Pháp thuộc ===&lt;br /&gt;
Năm 1876 Gò Công, vốn trước kia thuộc tỉnh [[Định Tường]] thời “[[Nam Kỳ Lục Tỉnh|Nam Kỳ lục tỉnh]]”&amp;lt;ref&amp;gt;Nam Kỳ Lục Tỉnh là tên gọi chính thức của sáu tỉnh thuộc miền Nam Việt Nam được người Pháp và triều Nguyễn tổ chức từ năm 1867–1868, sau khi Pháp chiếm trọn Nam Kỳ. Đây là giai đoạn hành chính quan trọng trong lịch sử Nam Bộ. &amp;lt;/ref&amp;gt; (tiếng Pháp: &#039;&#039;[[Cochinchine]]&#039;&#039;), trở thành một hạt tham biện (arrondissement) thuộc khu vực (circonscription) Mỹ Tho do thực dân Pháp đặt ra. Hạt tham biện (còn gọi là Tiểu khu hành chính, trị sở được dân gian quen gọi là tòa Bố) Gò Công gồm 4 tổng: [[Tổng Hòa Đồng Thượng|Hòa Đồng Thượng]] (có 8 làng), [[Tổng Hòa Đồng Hạ|Hòa Đồng Hạ]] (có 10 làng), [[Tổng Hòa Lạc Thượng|Hòa Lạc Thượng]] (có 10 làng), [[Tổng Hòa Lạc Hạ|Hòa Lạc Hạ]] (có 12 làng). Xem chi tiết bài [https://gocong.org/go-cong-tien-giang-hon-100-nam-truoc/ Gò Công – Tiền Giang hơn 100 năm trước]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Gò Công trở thành tỉnh Gò Công, với số tổng và số làng không đổi. Tỉnh lị là [[thị xã Gò Công]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, Gò Công trở thành quận thuộc tỉnh Mỹ Tho. Sau đó lại tái lập tỉnh Gò Công với 5 tổng, thêm [[tổng Hòa Đồng Trung]], số làng cũng thay đổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Việt Nam Cộng Hòa ===&lt;br /&gt;
Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sáp nhập tỉnh Gò Công vào tỉnh Định Tường mới thành lập trên phần đất tỉnh Mỹ Tho. Ngày 20 tháng 12 năm 1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập tỉnh Gò Công, tách từ tỉnh Định Tường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công là một tỉnh nhỏ, phía bắc với giáp hai tỉnh Long An và Gia Định, phía đông là biển Đông, phía nam giáp tỉnh Kiến Hòa, phía tây giáp tỉnh Định Tường. Ranh giới phía nam của Gò Công là [[sông Cửa Đại]], ranh giới phía bắc là [[Sông Vàm Cỏ|sông Vàm Cỏ Tây]], còn ranh giới phía đông bắc là sông Nhà Bè đổ ra cửa Soài Rạp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi mới tái lập tỉnh Gò Công gồm 2 quận [[Quận Châu Thành|Châu Thành]] (đổi tên từ [[quận Gò Công]]) và [[Quận Hòa Đồng|Hòa Đồng]] với 4 tổng 31 xã. Ngày 6 tháng 4 năm 1965, chia quận Châu Thành (tỉnh Gò Công) thành 2 quận: [[Quận Hòa Tân|Hòa Tân]], quận lỵ tại [[xã Tân Niên Tây]] với 9 xã; [[Quận Hòa Lạc|Hòa Lạc]], quận lỵ tại [[xã Tăng Hòa]] với 9 xã; chia [[quận Hòa Đồng]] thành 2 quận: Hòa Đồng, quận lỵ tại xã Vĩnh Bình với 8 xã; [[Quận Hòa Bình|Hòa Bình]], quận lỵ tại [[xã Bình Luông Đông]] với 5 xã. Như vậy tỉnh Gò Công có 4 quận.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 2 năm 1976 tỉnh Gò Công nhập với Mỹ Tho thành tỉnh Tiền Giang. Hiện nay địa bàn tỉnh Gò Công cũ tương ứng với thị xã Gò Công và các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ===&lt;br /&gt;
Tháng 2 năm 1976, tỉnh Gò Công hợp nhất với tỉnh Mỹ Tho và thành phố Mỹ Tho để trở thành tỉnh Tiền Giang. Đô thị Gò Công trở thành thị xã trực thuộc tỉnh Tiền Giang cho đến ngày nay. Chính quyền tỉnh Tiền Giang dự kiến đến năm 2025 thị xã Gò Công sẽ trở thành thành phố trực thuộc tỉnh.&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1976&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Cơ cấu hành chính ban đầu của Tiền Giang&lt;br /&gt;
|Tỉnh Tiền Giang có Thị xã Gò Công (đô thị Gò Công cũ) và huyện Gò Công (bao gồm phần đất còn lại).&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;Năm 1977&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Điều chỉnh hành chính cấp huyện&lt;br /&gt;
|Theo Quyết định số 77-CP, Thị xã Gò Công được chuyển thành Thị trấn Gò Công thuộc huyện Gò Công.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;Năm 1979&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Chia tách huyện Gò Công&lt;br /&gt;
|Huyện Gò Công được chia thành hai huyện mới: [[Huyện Gò Công Đông]] và [[Huyện Gò Công Tây]]. Thị trấn Gò Công lúc này thuộc huyện Gò Công Tây.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1987&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Tái lập Thị xã Gò Công&lt;br /&gt;
|Theo Quyết định số 37-QĐ/HĐBT ngày 16/2/1987 của Hội đồng Bộ trưởng, Thị xã Gò Công được tái lập trên cơ sở tách ra từ huyện Gò Công Tây (bao gồm cả thị trấn Gò Công và một số xã lân cận).&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1994&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Thành lập các phường mới&lt;br /&gt;
|Chính phủ ban hành Nghị định 69-CP (23/6/1994) thành lập Phường 3 và Phường 4 thuộc Thị xã Gò Công.&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Thành Phố Gò Công ====&lt;br /&gt;
19/3/2024 Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập [[Thành phố Gò Công]] trực thuộc tỉnh Tiền Giang, trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của Thị xã Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1/5/2024 Nghị quyết thành lập Thành phố Gò Công có hiệu lực. Gò Công chính thức trở thành thành phố thứ hai của tỉnh Tiền Giang (sau thành phố Mỹ Tho), với 10 đơn vị hành chính cấp xã (7 phường và 3 xã).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Sáp Nhập vào Đồng Tháp ====&lt;br /&gt;
1/7/2025 Thành phố Gò Công bị giải thể.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Gò Công được sắp xếp lại và trở thành các [[:Thể loại:Gò Công - Đồng Tháp|phường/xã trực thuộc tỉnh Đồng Tháp]] mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điều chỉnh cấp xã tại Gò Công: Theo Nghị quyết 1663/NQ-UBTVQH15 năm 2025 các đơn vị hành chính cấp xã của Gò Công giảm từ 10 xuống còn 4 đơn vị hành chính mới. &lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|Đơn vị Hành chính Mới&lt;br /&gt;
|Loại hình&lt;br /&gt;
|Cơ sở hình thành (ĐVHC cũ của Thành phố Gò Công)&lt;br /&gt;
|Diện tích (km²)&lt;br /&gt;
|Dân số (người)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Gò Công]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường 1, Phường 5, và Phường Long Hòa.&lt;br /&gt;
|10,06&lt;br /&gt;
|36.124&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Long Thuận]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường 2 và Phường Long Thuận.&lt;br /&gt;
|8,3&lt;br /&gt;
|29.715&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Bình Xuân]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường Long Chánh và Xã Bình Xuân.&lt;br /&gt;
|34,42&lt;br /&gt;
|32.052&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Sơn Qui]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường Long Hưng, Xã Tân Trung, và Xã Bình Đông.&lt;br /&gt;
|49,49&lt;br /&gt;
|48.590&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;Tóm tắt sự thay đổi:&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trước 1/5/2024 (Thị xã Gò Công): Có 10 đơn vị (5 phường, 5 xã, sau đó được sắp xếp còn 7 phường, 3 xã).&lt;br /&gt;
* Sau 1/5/2024 (Thành phố Gò Công): Có 10 đơn vị cấp xã.&lt;br /&gt;
* Sau 1/7/2025 (Khu vực Gò Công thuộc tỉnh Đồng Tháp mới): [[:Thể loại:Gò Công - Đồng Tháp|Khu vực Gò Công]] cũ được tinh gọn thành 4 phường mới, đều mang loại hình Phường (vì khu vực đô thị trung tâm được sắp xếp thành các phường).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Địa danh cũ trở thành khu vực: Khu vực đô thị Gò Công cũ chuyển từ cấp Thành phố/Thị xã thành các phường/xã trực thuộc tỉnh Đồng Tháp mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Tóm tắt về Gò Công|Xem tóm tắt các cột mốc]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Văn hóa ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Đình cổ Tân Đông - Gò Công since 1892.jpg|nhỏ|Đình cổ Tân Đông - 1892]]&lt;br /&gt;
Là vùng đất giàu truyền thống văn hóa Nam Bộ, mang dấu ấn giao thoa giữa văn hóa nông thôn đồng bằng sông Cửu Long và ảnh hưởng đô thị từ thời Pháp thuộc. Văn hóa Gò Công thể hiện qua nhiều mặt:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Lễ hội và tín ngưỡng: ===&lt;br /&gt;
* Người dân duy trì các lễ hội truyền thống gắn với nông nghiệp, như lễ cúng đất, lễ cầu mưa, lễ hội đình làng, lễ hội Kỳ yên...&lt;br /&gt;
* Thờ cúng các anh hùng dân tộc và các vị thần linh địa phương vẫn phổ biến, thể hiện sự tôn kính tổ tiên và gắn bó cộng đồng.&lt;br /&gt;
* Tôn giáo tại Gò Công: Tại Gò Công, các tôn giáo chính bao gồm Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam. Theo Niên giám thống kê Tiền Giang năm 2020, toàn tỉnh có 11 tôn giáo khác nhau, trong đó Phật giáo và Công giáo chiếm tỷ lệ lớn nhất.&lt;br /&gt;
* [[Tủ thờ Gò Công]] là một phần quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng và đời sống tinh thần của người dân địa phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Các lễ hội đặc trưng: ====&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Anh hùng dân tộc Trương Định.jpg|nhỏ|Anh hùng dân tộc Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Lễ giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Nghinh Ông]] - Vàm Láng (tổ chức tại [[Lăng ông|Lăng Ông Nam Hải]], Gò Công Đông)&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Kỳ Yên]] (hay Lễ Cầu An, tổ chức tại các Đình làng, tiêu biểu như Kỳ Yên Vĩnh Bình ở Gò Công Tây)&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Quan Thánh Đế Quân]] (hay Vía Quan Thánh/Vía Ông, tổ chức tại Chùa Ông - Miếu Quan Đế, Thị xã Gò Công)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Ngôn ngữ và văn học dân gian: ===&lt;br /&gt;
* Tiếng nói địa phương mang âm hưởng Nam Bộ với nhiều từ ngữ cổ, gần gũi với đời sống sông nước.&lt;br /&gt;
* Các hình thức văn học dân gian như ca dao, tục ngữ, truyện kể phản ánh nếp sống, đạo đức và kinh nghiệm lao động của cư dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Kiến trúc và nghệ thuật: ===&lt;br /&gt;
* Đình, chùa, nhà cổ Gò Công thường mang kiến trúc Nam Bộ điển hình, kết hợp yếu tố Pháp – Việt từ thời thuộc địa.&lt;br /&gt;
* Nghệ thuật dân gian như hát bội, cải lương, múa dân gian vẫn được gìn giữ trong các dịp lễ hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Đời sống cộng đồng: ===&lt;br /&gt;
* Gò Công là vùng đất nông nghiệp trù phú, nên đời sống cộng đồng mang tính gắn kết, hiếu khách và trọng lễ nghĩa.&lt;br /&gt;
* Truyền thống nghề thủ công như dệt chiếu, làm nón lá vẫn tồn tại ở một số làng nghề.&lt;br /&gt;
== Con người ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Chan-dung-0-4851-1721729554.jpg|nhỏ|[[Nam Phương Hoàng hậu|Nam Hương(Phương) Hoàng Hậu]]]]&lt;br /&gt;
Nơi đây có truyền thống học hành, nhiều người đỗ đạt cao trong các kỳ thi xưa rồi làm quan dưới các triều vua nhà Nguyễn. Ông [[Phạm Đăng Hưng]] đã từng làm quan Thượng thư dưới 3 triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Con gái ông là bà [[Từ Dụ Thái hậu|Phạm Thị Hằng]] là vợ vua Thiệu Trị, là mẹ vua Tự Đức tức [[Từ Dụ Thái hậu|Thái hậu Từ Dũ]] nổi tiếng trong lịch sử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công cũng là đất của hoàng hậu&amp;lt;ref&amp;gt;Tìm hiểu thêm: https://gocong.org/search/#gsc.tab=0&amp;amp;gsc.q=ho%C3%A0ng%20h%E1%BA%ADu&amp;amp;gsc.sort=&amp;lt;/ref&amp;gt;, người phụ nữ xứ này hãnh diện với tên gọi “Gò Công nhan sắc”; và Gò Công nổi tiếng với những nghệ nhân khéo tay, sáng tạo làm nên “cái tủ thờ” có giá trị văn hóa nghệ thuật mang tầm cỡ quốc gia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Giáo dục - Y tế ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Giáo dục ===&lt;br /&gt;
Thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: Gò Công nổi bật với phong trào [[:Thể loại:Giáo dục|văn hóa và giáo dục]]. Nhiều tác phẩm văn học quốc ngữ đầu tiên được xuất bản tại đây, như &#039;&#039;Việt âm văn uyển&#039;&#039; (1911). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay: Gò Công có hệ thống giáo dục đa dạng, từ mầm non đến trung cấp. Trường Trung cấp Gò Công cung cấp các ngành nghề như cơ khí, điện – điện tử, kế toán và dịch vụ. Ngoài ra, các nhóm trẻ cũng đóng góp vào việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Y tế ===&lt;br /&gt;
Trước năm 1975, Gò Công là một trong những trung tâm y tế quan trọng của miền Nam. Nơi đây có Bệnh viện Gò Công với quy mô lớn, phục vụ cho cả khu vực Gò Công và các huyện lân cận. Ngoài ra, các trạm y tế xã và đội ngũ y tế cơ sở cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Gò Công, trận dịch kinh hoàng nhất xảy ra hồi năm 1905. Dịch tả xảy ra sau trận bão, có khoảng 50% dân số ở đây được ghi nhận là đã chết trong trận dịch này.  &amp;lt;ref&amp;gt;Theo Việt Cúc trong Gò Công cảnh cũ người xưa ghi lại:“ Mầm thời khí phát lên rồi mới bôn ba cứu chữa thì quá muộn. Phần đông dân chúng thuở ấy còn mê tín, chỉ cầu khẩn khấn vái tống ôn, không biết đến thuốc men, giữ vệ sinh. Người chết rất nhiều....Có gia đình nội trong 10 ngày chết 3 người. Có nhà thì đứa em chết sớm mai, chiều tối đứa chị chết.....Chết nhiều đến nỗi thiếu hòm, thiếu ván để đóng quách mà chôn....”&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Y tế Gò Công hiện nay đã có sự phát triển mạnh mẽ, với hệ thống cơ sở y tế đa dạng và chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao. Người dân Gò Công và các khu vực lân cận có thể tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao.[[Tập tin:6329-4-Vietnamese-scaled.jpg|nhỏ|Gò Công Map]]&lt;br /&gt;
== Kinh tế ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời kỳ trước năm 1975 ===&lt;br /&gt;
Thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: Gò Công là một trong những trung tâm kinh tế, hành chính và văn hóa quan trọng của miền Nam. Sau năm 1862, làng Thuận Tắc trở thành trung tâm kinh tế, hành chính của chính quyền thuộc địa, với sự hình thành chợ Gò Công sầm uất nhất vùng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Nông nghiệp: Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa, cây ăn trái và thủy sản.&lt;br /&gt;
* Thủ công nghiệp: Phát triển các nghề thủ công như dệt chiếu, đan lát, làm gạch ngói, cung cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài vùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau 1975 ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Công nghiệp: Phát triển các khu công nghiệp như [[Khu công nghiệp dịch vụ dầu khí Soài Rạp|Khu công nghiệp Dịch vụ dầu khí Soài Rạp]], Khu công nghiệp Bình Đông, Khu công nghiệp Phú Tân, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.&lt;br /&gt;
* Nông nghiệp: Đẩy mạnh sản xuất nông sản chất lượng cao, ứng dụng công nghệ cao vào trồng trọt và chăn nuôi.&lt;br /&gt;
* Kinh tế biển: Gò Công Đông xác định kinh tế biển là hướng phát triển chủ đạo, với trọng tâm hoàn thiện hạ tầng đồng bộ phục vụ kinh tế - xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Giao thông ==&lt;br /&gt;
Trước năm 1975, giao thông Gò Công chủ yếu dựa vào đường thủy với hệ thống sông, rạch chằng chịt. Việc đi lại giữa Gò Công và Sài Gòn khi đó phần lớn qua [[phà Mỹ Lợi]] bắc ngang sông Vàm Cỏ. Tuyến phà này là cửa ngõ quan trọng nối liền Gò Công – Tân Hòa với quốc lộ 50, đồng thời là tuyến huyết mạch để vận chuyển hàng hóa, nông sản và hành khách giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau năm 1975, [[:Thể loại:Đường Sá|hệ thống giao thông Gò Công]] được cải thiện đáng kể. Quốc lộ 50 được mở rộng, nối thông đến Thành phố Hồ Chí Minh; [[cầu Mỹ Lợi]] được khánh thành năm 2015 thay thế phà cùng tên, tạo thuận lợi lớn cho việc giao thương. Ngoài ra, các tuyến đường tỉnh và liên huyện được nâng cấp, giúp Gò Công kết nối nhanh hơn với Mỹ Tho, Gò Công Đông, Gò Công Tây và vùng ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tên đường ở thành phố Gò Công trước năm 1975 ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Đường Phạm Đăng Hưng]] (cũ) nay là [[đường Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Võ Tánh]] nay là [[đường Rạch Gầm]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Phan Thanh Giản]] nay là [[đường Lê Thị Hồng Gấm]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Tân Hội]] và [[Đường Nguyễn Trãi|Nguyễn Trãi]] nay là [[đường Phan Chu Trinh]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Lý Thường Kiệt]] nay là [[đường Phan Đình Phùng]]&lt;br /&gt;
* [[Cụm đường Huyện Nguơn, Chủ Sự Thiều, Tổng Thư, Đồ Chiểu|Đường Huyện Nguơn, Chủ Sự Thiều, Tổng Thư và Đồ Chiểu]] nay là [[đường Nguyễn Huệ]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Huyện Tri]] nay là [[đường Võ Duy Linh]]&lt;br /&gt;
* Đường Hai Bà Trưng, Duy Tân và Tổng Đốc Phương nay là [[đường Hai Bà Trưng]]&lt;br /&gt;
* Đường Joffre, Thái Lập Thành, [[Đường Hộ Mưu|Hộ Mưu]] nay là [[đường Nguyễn Văn Côn]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Thái Học]] nay là [[đường Thủ Khoa Huân]]&lt;br /&gt;
* Đường Phan Đình Phùng, Phan Châu Trinh nay là đường Nguyễn Trãi&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Văn Thinh]] nay là [[Quốc lộ 50]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Từ Dũ]] nay là [[đường Lý Tự Trọng]]&lt;br /&gt;
* Đường Hàm Nghi và [[Đường Lê Văn Duyệt|Lê Văn Duyệt]] nay là [[đường Lưu Thị Dung]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Gia Long]] và [[Đường Trần Hưng Đạo|Trần Hưng Đạo]] nay là đường Trần Hưng Đạo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Những con đường mất hẳn do quy hoạch ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Đường Đốc Phủ Vinh]]&lt;br /&gt;
* [[Hẻm số 13]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Trịnh Hoài Đức]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Paulus Của]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Công Trứ]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Du]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Cả]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Pétrus Ký]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Địa Lý ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Gò Công ngập trong biển nước – Ảnh- tư liệu.jpg|nhỏ|Bão năm Giáp Thìn]]&lt;br /&gt;
Gò Công là một vùng đất thuộc tỉnh Tiền Giang, nằm ở phía Đông Nam của Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đất này có bờ biển dài hơn 32 km, giáp Biển Đông và nằm giữa các cửa sông lớn như Soài Rạp, Cửa Tiểu và Cửa Đại. Vị trí này rất thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Khí hậu ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình khoảng 27–27,9°C, lượng mưa trung bình từ 1.210 đến 1.424 mm/năm, giảm dần từ Bắc vào Nam&lt;br /&gt;
* Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 11, nhiệt độ cao và ẩm ướt, lượng mưa tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp và sinh thái.&lt;br /&gt;
Trận [[Bão năm Thìn|bão năm Giáp Thìn]] xảy ra vào ngày 1-5-1904, nhằm ngày 16-3 âm lịch, gây thiệt hại hầu hết các tỉnh ở Nam bộ. Trong đó, thiệt hại nặng nề nhất là Gò Công và vùng phụ cận, với trên 60% nhà bị sập đổ, 5.000 người chết trôi, 80% gia súc bị chết… Còn theo dân gian, truyền miệng qua thơ, vè, thì số người chết khoảng “một muôn hai” (tức khoảng 12.000 người).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sinh thái ===&lt;br /&gt;
Gò Công có hệ sinh thái phong phú, đặc biệt là hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển. Rừng ngập mặn tại các xã như Tân Thành và Vàm Láng có diện tích khoảng 1.210 ha, bao gồm cả rừng phòng hộ và bãi bồi ven biển. Hệ sinh thái này không chỉ là nơi sinh sống của nhiều loài động, thực vật, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển và phát triển du lịch sinh thái.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với bờ biển dài và hệ thống sông ngòi chằng chịt, Gò Công có tiềm năng lớn trong nuôi trồng và khai thác thủy sản. Các loài thủy sản nước lợ như tôm, cua, cá, sò, nghêu... có trữ lượng hàng năm ước tính khoảng 156.000 tấn tại các vùng cửa sông. Kinh tế biển không chỉ đóng góp vào thu nhập của người dân mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm và phát triển bền vững cho địa phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm Ất Tỵ (năm 1905), Gò Công bị nạn “[[Hoàng Trùng|hoàng trùng]]” (giặc châu chấu) phá hoại mùa màng khoảng gần nửa tháng, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp rất nặng nề. Người ta cho rằng, loài châu chấu này từ châu Phi tràn đến, chúng bay rợp trời, có đến hàng mấy triệu con mỗi đàn, đậu đáp ở đâu thì chỗ đó cây cỏ “trơ xương”, trụi lá. Năm sau thì bị nạn “[[Bạch Đồng|bạch đồng]]”. Suốt từ tháng 6 âm lịch đến tháng 10 năm Bính Ngọ (năm 1906) trời trong xanh, không có lấy một giọt mưa. Ban đêm sao sáng đầy trời. Khô hạn nhằm vào lúc nông dân sửa soạn làm lễ hạ điền, xuống giống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Du lịch ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Image-74.jpg|nhỏ|[[Dinh Chánh Tham Biện Gò Công]]]]&lt;br /&gt;
Gò Công đang phát triển du lịch sinh thái biển, kết hợp với văn hóa, lịch sử của vùng đất. Các điểm du lịch như Khu du lịch biển Tân Thành, vườn táo, di tích lịch sử cấp quốc gia và các cù lao ven biển thu hút du khách trong và ngoài tỉnh. Việc phát triển du lịch sinh thái không chỉ bảo tồn giá trị tự nhiên mà còn nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công có nhiều địa điểm du lịch văn hóa và sinh thái nổi bật, bao gồm: [[Dinh Đốc phủ Hải]] (Nhà Đốc Phủ Hải), [[Khu du lịch biển Tân Thành|Biển Tân Thành]] (Biển Gò Công), [[Đình Trung]], [[Lăng Hoàng Gia]] ([[Phạm Đăng Hưng|Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng]]), [[Đền thờ Trương Định|Đền thờ]] và [[Lăng mộ Trương Định|Lăng mộ]] anh hùng dân tộc [[Trương Định]], [[Mộ Bát Lăng]], [[Đình Tân Đông]] ([[Đình Gò Táo]]), [[Dinh Tỉnh Trưởng]] Gò Công, [[Khu du lịch sinh thái Làng Yến]], [[Khu mộ Đá Ong (Khu mộ Bà Tương)]], [[Miếu Võ Quốc Công|miếu thờ Võ Tánh]]...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Đặc sản - Ẩm thực ==&lt;br /&gt;
Gò Công là vùng đất nổi tiếng với nhiều đặc sản mang đậm hương vị Nam Bộ. Trong đó, sơ ri Gò Công và mắm Gò Công là hai sản vật tiêu biểu gắn liền với đời sống và văn hóa ẩm thực địa phương. [[Sơ ri Gò Công]] được trồng chủ yếu ở xã Tân Trung, Bình Xuân và phường 2, thị xã Gò Công, nổi tiếng nhờ trái nhỏ, vỏ mỏng, vị ngọt thanh và giàu vitamin C. Giống sơ ri này đã trở thành thương hiệu đặc trưng của vùng đất Gò Công ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Mắm Gò Công]] có nhiều loại như mắm tôm chua, mắm cá linh, mắm cá sặc... được chế biến theo phương pháp truyền thống, giữ nguyên hương vị mặn mòi của biển và đồng ruộng. Mắm Gò Công không chỉ là món ăn dân dã trong bữa cơm Nam Bộ mà còn là đặc sản được du khách tìm mua làm quà. [[Sam biển Gò Công]], [[Nghêu Gò Công]] là một loại hải sản đặc sản nổi bật ở vùng biển xã Vàm Láng, Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. [[Bánh giá Gò Công|Bánh vá]], còn gọi bánh giá, là món ăn đặc sản chỉ thấy ở Gò Công (Tiền Giang), đặc biệt nổi tiếng tại Chợ Giồng (Gò Công Tây).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đặc sản khác: [[Vọp Gò Công]], [[Nham Gò Công]], [[Hủ tíu Gò Công]], [[Tôm xe cán]], [[Bông lục bình]], [[Cá bống dừa]], [[Gỏi Nham Gò Công]], [[Dưa hấu Gò Công]], [[Chè Sơn Qui]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Văn chương - Thơ ca&amp;lt;ref&amp;gt;Tham khảo https://ca-dao.com/&amp;lt;/ref&amp;gt; ==&lt;br /&gt;
Gò Công cũng có nhiều cây bút Hán Nôm khá nổi tiếng như Tú tài [[Trần Văn Hội]] (Tú Hội), [[Trần Quang Hùng]] (Chủ Hùng), [[Ông Chủ Sự Thiều|Trần Đình Thiều]] (Chủ sự Thiều), [[Huỳnh Đình Nguơn|Huỳnh Đình Ngươn]]... Một số bài thơ Nôm của Huỳnh Đình Ngươn hiện còn được lưu giữ là [[Bóng người|Bóng người,]] [[Uống rượu say]], Cọp vẽ, [[Đi xe lửa]], Ngựa sút chuồng bị phạt, đặc biệt là bài cửu thủ liên hoàn Du hoạn ư Tho giang cảm tác... Khi ông mất, 20 năm sau, Lê Sum đã phiên âm bài nầy ra chữ quốc ngữ và in trong Việt âm Văn uyển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây cũng là quê hương của nữ thi sĩ [[Nguyễn Thị Kiêm|Lê Thị Kim]] (nữ sĩ [[Nguyễn Thị Manh Manh|Manh Manh]]) và [[Phan Thị Bạch Vân]], chủ nhân Nữ lưu thơ quán Gò Công.  &lt;br /&gt;
=== Thơ về Gò Công&amp;lt;ref&amp;gt;Thơ về Gò Công https://gocong.org/book/tuyen-tap-tho-go-cong/&amp;lt;/ref&amp;gt; ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca ====&lt;br /&gt;
Gò Công cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều thi sĩ. Nhà thơ Nguyễn Liên Phong đã viết trong [[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca]]:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Thanh lịch Gò-công xứ biết chơi,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Địa linh nhơn kiệt quả như lời.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Vỏ-công hùng cứ bia ngàn thuở,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Phạm-Tộc phủ thờ quới một nơi.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Phát trước nhiều ông danh tiếng rạng,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Nối sau chán kẻ hiển vinh đời.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Năm thìn ruổi mắc cơn giông bão,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Dựng lại bằng xưa cũng phước trời.&lt;br /&gt;
[[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca|Đọc thêm]]&amp;lt;/blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Kỷ niệm Gò Công ====&lt;br /&gt;
Bài thơ này ca ngợi vẻ đẹp thanh lịch và truyền thống văn hóa của Gò Công. Ngoài ra, nhà thơ Bùi Giáng trong bài &amp;quot;[[Kỷ niệm Gò Công (Bùi Giáng)|Kỷ niệm Gò Công]]&amp;quot; cũng đã viết:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Bên vườn ngày ấy có mai&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nở hoa bên trúc một ngày đầu xuân&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ấy ngày tôi đến Gò Công&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ba mươi năm vẫn còn mong trở về&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Về xem trở lại sơn khê&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò Công còn có như ngày đầu tiên&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Bên vườn còn bóng thuyền quyên?&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Đi về phảng phất thần tiên điệu đàn&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Về sau bỗng gặp muôn vàn&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Giấc trưa giờ ngọ một nàng Tiên Ngâu&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nàng tiên ấy đã đi đâu&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Hay còn lẩn quất giữa màu lá cây?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Kỷ niệm Gò Công (Bùi Giáng)|Đọc thêm]]&lt;br /&gt;
&amp;lt;/blockquote&amp;gt;Bài thơ này thể hiện nỗi nhớ và tình cảm sâu sắc của tác giả đối với Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Hồn đất Gò Công ====&lt;br /&gt;
Bài thơ viết về những tên gọi Gò Công theo thời gian&amp;lt;ref&amp;gt;Bài “Hồn đất Gò Công” là một trường ca địa – sử – văn hóa, viết theo lối biên niên bằng thơ, kết hợp giữa địa chí, sử ký và cảm thức thi ca. Bài thơ nhằm ghi lại lịch sử tên gọi và thân phận hành chính của đất Gò Công qua các thời kỳ, nhưng không viết bằng văn xuôi khô cứng mà bằng hồn thơ địa linh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây không chỉ là bài thơ “kể tên”, mà là bản tuyên ngôn mềm về căn tính Gò Công.&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò Công, vùng đất tứ linh;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Cánh chim nhạn trắng, đượm tình biển khơi.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Mênh mang sóng vỗ muôn đời;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gió đưa gió đẩy, về nơi ăn còng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khổng Tước Nguyên, thuở sơ phong;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò cao rợp bóng chim Công lượn vòng.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Rừng xanh cây trái đơm bông;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Dấu xưa ghi tạc giữa lòng núi sông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngược dòng lịch sử ghi lòng;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Lôi Lạp thuở ấy, khơi dòng khởi nguyên.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Tên xưa phủ cũ, lưu truyền;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Vạn trường khuất nẻo, biến thiên đổi dời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Hồn đất Gò Công|Đọc thêm]]&amp;lt;/blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Ca dao ===&lt;br /&gt;
Một trong những câu ca dao nổi tiếng về Gò Công là:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&amp;quot;Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,&amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gió nào độc bằng gió Gò Công.&amp;quot;&amp;lt;/blockquote&amp;gt;Câu ca dao này không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của Gò Công mà còn phản ánh sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Có đứa nào xạo bằng thằng Út Gò Công&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh đi đóng đáy Bãi Ngang&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ngó qua Láng Lộc thấy nàng lượm tôm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai về Tân Phước Rạch Già&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gởi con cá lóc hái cà nấu canh&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh đi chuyến gạo Gò Công,&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Anh về Bao Ngược&amp;lt;ref&amp;gt;&#039;&#039;Vàm Bao Ngược: Tên cửa sông tiếp giáp giữa sông Vàm Cỏ và sông Soài Rạp, thuộc địa phận huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Lòng sông ở đây sâu, nước chảy mạnh, thường có sóng to gió lớn, nên trước đây thường xảy ra tai nạn đắm thuyền.&#039;&#039;&amp;lt;/ref&amp;gt;, bị giông đứt buồm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh ơi về tới Gò Công&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nhớ mua bánh giá chợ Giồng tặng em&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây cũng là quê hương của nhà văn [[Hồ Biểu Chánh]], nhà văn Sơn Vương... Trong những năm 1925-1930, tại đây đã có Nhà xuất bản Nữ lưu thơ quán của [[Phan Thị Bạch Vân]] nổi tiếng toàn quốc, tập hợp nhiều cây bút tiến bộ đương thời cổ động cho nữ giới mở mang học vấn và bảo vệ luân lý đạo đức.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Âm Nhạc ==&lt;br /&gt;
[[File:Mẹ Gò Công - Bảo Yến.mp4|thumb|400px|Mẹ Gò Công - Bảo Yến - [[:Thể loại:Nhạc Gò Công|Nhạc Gò Công]]]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vùng đất Gò Công là nơi sản sinh ra nhiều nhạc sĩ tài năng, góp phần làm phong phú nền âm nhạc trữ tình Việt Nam, đặc biệt là dòng nhạc quê hương, tiền chiến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai tên tuổi tiêu biểu là nhạc sĩ [[Lê Dinh]] và [[Hoàng Phương]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Lê Dinh]] (1934 – 2020), thành viên của nhóm Lê Minh Bằng nổi tiếng, là tác giả của nhiều ca khúc được yêu mến như &#039;&#039;Tình yêu trả lại trăng sao&#039;&#039;, &#039;&#039;Bảo Tố&#039;&#039;, và là người thầy dạy nhạc cho nhạc sĩ Hoàng Phương.&lt;br /&gt;
* [[Hoàng Phương]] (1943 – 2002) được mệnh danh là &amp;quot;Ông hoàng nhạc Gò Công&amp;quot; với những sáng tác mang âm hưởng dân ca, trữ tình sâu lắng. Tác phẩm nổi bật nhất của ông là &amp;quot;Hoa sứ nhà nàng&amp;quot; (&#039;&#039;Hoa sứ nhà em&#039;&#039;) đã &amp;quot;làm mưa làm gió&amp;quot; khắp nơi, cùng với &amp;quot;[[Mẹ Gò Công]]&amp;quot;, &amp;quot;[[Chuyện tình hoa muống biển]]&amp;quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tác phẩm của những nhạc sĩ Gò Công, đặc biệt là nhạc của Hoàng Phương, đã được nhiều ca sĩ tên tuổi thể hiện thành công, trong đó có Bảo Yến (người đã góp phần làm nên tên tuổi cho băng nhạc Gò Công nổi tiếng thập niên 1980) và Phương Dung.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những sản phẩm độc đáo của vùng Gò Công như: điệu [[Lý Con Sáo Gò Công|lý con sáo Gò Công]], vẫn còn được lưu giữ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Ghi chú ==&lt;br /&gt;
&amp;lt;references /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tài liệu tham khảo ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Việt Cúc: [[Gò Công cảnh cũ người xưa]], Tự xuất bản 1969&lt;br /&gt;
* Girmeld Monographie de province de Go Cong 1936, Tham biện Chủ tỉnh Gò Công, Người dịch: Huỳnh Văn Phát.&lt;br /&gt;
* Huỳnh Minh: [[Gò Công xưa|Gò Công xưa và nay]], NXB Cánh Bằng, 1969.&lt;br /&gt;
* Gia phả họ Trần (bản chữ Quốc ngữ), Gia pháp gia đình họ Trần – Gò Công (họ Trần của bà Trần Thị Sanh, người vợ thứ của Trương Định)&lt;br /&gt;
* [[Gia Định Thành Thông Chí|Gia Định thành thông chí]] (嘉定城通志) hay &#039;&#039;Gia Định thông chí&#039;&#039; (嘉定通志) là một quyển địa chí của Trịnh Hoài Đức (1765-1825) viết về miền đất Gia Định bằng chữ Nho và chữ Nôm, là một sử liệu quan trọng về Nam Bộ thời nhà Nguyễn.&lt;br /&gt;
* [[Nam Kỳ Và Cư Dân Các Tỉnh Miền Đông|Nam kỳ và cư dân: Các tỉnh miền Đông]] - J. C. Baurac&lt;br /&gt;
* [[South Vietnam]] - Official Standard Names Approved by the United States Board on Geographic Names, 1971&lt;br /&gt;
* [[Địa chí Tiền Giang]] - Trần Hoàng Diệu, Nguyễn Anh Tuấn, 2005&lt;br /&gt;
* [[Tự vị tiếng nói miền Nam]] - Vương Hồng Sến, 1998&lt;br /&gt;
* [[Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ]] - Nguyễn Đình Tư, 2008&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Vọng Tiếng Đất Lành]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Lặng Thầm Hương Sắc]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Thao Thức Dấu Xưa]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Từ Làng Thành Phố]] - Phan Thanh Sắc, 2022&lt;br /&gt;
* [[Địa Phương Chí và Luật Đường Bộ tỉnh Gò Công đầu thế kỷ XX]] - Võ Văn Hải, 2025&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thống kê ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;p&amp;gt;Chúng ta có khoảng &#039;&#039;&#039;{{NUMBEROFPAGES}}&#039;&#039;&#039; trang nội dung các loại&amp;lt;/p&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;p&amp;gt;&#039;&#039;&#039;Mời đóng góp:&#039;&#039;&#039; [[Đặc biệt:Trang cần thiết|Trang cần viết]]&amp;lt;/p&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;div style=&amp;quot;background: aliceblue;padding: 15px;border: 1px solid #4054af;border-radius: 3px;color:#ed5381; margin-bottom:15px&amp;quot;&amp;gt;Trang nầy có một số thông tin ngắn gọn (ví dụ như tiểu sử [[Nam Phương Hoàng hậu]]). Vì vậy hãy tìm thêm trên trang chính https://gocong.org/search để xem những bài viết dài, phân tích chi tiết hơn.&amp;lt;/div&amp;gt;&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Gi%E1%BA%A3n_B%C3%A1_Hu%E1%BB%B3nh&amp;diff=3003</id>
		<title>Giản Bá Huỳnh</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Gi%E1%BA%A3n_B%C3%A1_Hu%E1%BB%B3nh&amp;diff=3003"/>
		<updated>2026-05-14T20:29:09Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;[[Tập tin:Giản Bá Huỳnh.jpg|nhỏ|Giản Bá Huỳnh]]&lt;br /&gt;
VOV có đăng bài Dinh tỉnh trưởng Gò Công (Đồng Tháp) “biến mất” trách nhiệm thuộc về ai?  cho biết việc phê duyệt thuộc về UBND thị xã Gò Công và cá nhân ông Giản Bá Huỳnh (nguyên Chủ tịch UBND thị xã Gò Công) ký phê duyệt.&amp;lt;ref&amp;gt;https://vov.vn/xa-hoi/dinh-tinh-truong-go-cong-dong-thap-bien-mat-trach-nhiem-thuoc-ve-ai-post1242866.vov&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kết luận thanh tra xác định rõ rằng ông Giản Bá Huỳnh — nguyên Chủ tịch UBND thị xã Thị xã Gò Công (tỉnh Tiền Giang) — đã có các thiếu sót, vi phạm liên quan đến quản lý dự án và thực hiện thủ tục đầu tư xây dựng tại địa phương. Cụ thể:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Báo cáo cho biết rằng UBND thị xã Gò Công đã phê duyệt dự án tu bổ di tích “[[Dinh tỉnh trưởng]] Gò Công” khi chủ đầu tư chưa thực hiện đầy đủ nội dung về môi trường và phòng cháy chữa cháy theo kiến nghị của cơ quan chức năng. &amp;lt;ref&amp;gt;https://znews.vn/dinh-tinh-truong-go-cong-bien-mat-trach-nhiem-thuoc-ve-ai-post1599369.html&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* Ông Giản Bá Huỳnh được nêu tên là người “ký phê duyệt thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở” và “ký phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu” cho dự án này mà chưa thực hiện đúng thẩm quyền, chưa thực hiện đầy đủ thủ tục đấu thầu theo quy định&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BA%ADp_tin:Gi%E1%BA%A3n_B%C3%A1_Hu%E1%BB%B3nh.jpg&amp;diff=3002</id>
		<title>Tập tin:Giản Bá Huỳnh.jpg</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BA%ADp_tin:Gi%E1%BA%A3n_B%C3%A1_Hu%E1%BB%B3nh.jpg&amp;diff=3002"/>
		<updated>2026-05-14T20:28:54Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Giản Bá Huỳnh&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BA%ADp_tin:B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%E1%BB%8Ba_h%C3%ACnh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_n%C4%83m_1881.jpeg&amp;diff=3001</id>
		<title>Tập tin:Bản đồ địa hình Gò Công năm 1881.jpeg</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BA%ADp_tin:B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%E1%BB%8Ba_h%C3%ACnh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_n%C4%83m_1881.jpeg&amp;diff=3001"/>
		<updated>2026-05-11T15:42:12Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Admin đã phục hồi một phiên bản cũ của Tập tin:Bản đồ địa hình Gò Công năm 1881.jpeg&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;== Miêu tả ==&lt;br /&gt;
Bib ID: 4503726&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Format: Map&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Author: Cochin China. Service du cadastre &amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Online Version: National Library of Australia digitised item&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Scale: Scale 1:00,000 (E 106°40&#039;/N 10°22&#039;)&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Description: [Hanoi]: Service du cadastre, 1881&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
1 map : col. ; 61.8 x 47.1 cm., on sheet 67.6 x 52.0 cm.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Notes: Topographic map of Gocong region, Vietnam.&lt;br /&gt;
&amp;quot;Gravé par J. Geisendörfer&amp;quot;.&lt;br /&gt;
Also available online http: /nla.gov.au/nla.obj-232448978&lt;br /&gt;
In French.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Subject: Gô Công Region (Vietnam) -- Maps&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Vietnam -- Administrative and political divisions -- Maps&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Genre/Form: Topographic maps&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Time Coverage: 1881&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Other authors/contributors: Geisendörfer, J&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Also Titled: Arrondissement de Gocong&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Reason for copyright status: Creator Date of Death is Before 1955&lt;br /&gt;
Copyright status was determined using the following information: &amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Material type: Artistic&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Presumed date of death of creator (latest date): 1881&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Published status: Published&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Publication date: 1881&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BA%ADp_tin:B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%E1%BB%8Ba_h%C3%ACnh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_n%C4%83m_1881.jpeg&amp;diff=3000</id>
		<title>Tập tin:Bản đồ địa hình Gò Công năm 1881.jpeg</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BA%ADp_tin:B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%E1%BB%8Ba_h%C3%ACnh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_n%C4%83m_1881.jpeg&amp;diff=3000"/>
		<updated>2026-05-11T15:38:08Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Admin đã tải lên một phiên bản mới của Tập tin:Bản đồ địa hình Gò Công năm 1881.jpeg&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;== Miêu tả ==&lt;br /&gt;
Bib ID: 4503726&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Format: Map&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Author: Cochin China. Service du cadastre &amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Online Version: National Library of Australia digitised item&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Scale: Scale 1:00,000 (E 106°40&#039;/N 10°22&#039;)&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Description: [Hanoi]: Service du cadastre, 1881&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
1 map : col. ; 61.8 x 47.1 cm., on sheet 67.6 x 52.0 cm.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Notes: Topographic map of Gocong region, Vietnam.&lt;br /&gt;
&amp;quot;Gravé par J. Geisendörfer&amp;quot;.&lt;br /&gt;
Also available online http: /nla.gov.au/nla.obj-232448978&lt;br /&gt;
In French.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Subject: Gô Công Region (Vietnam) -- Maps&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Vietnam -- Administrative and political divisions -- Maps&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Genre/Form: Topographic maps&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Time Coverage: 1881&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Other authors/contributors: Geisendörfer, J&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Also Titled: Arrondissement de Gocong&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Reason for copyright status: Creator Date of Death is Before 1955&lt;br /&gt;
Copyright status was determined using the following information: &amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Material type: Artistic&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Presumed date of death of creator (latest date): 1881&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Published status: Published&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Publication date: 1881&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_G%C3%B2_C%C3%B4ng&amp;diff=2999</id>
		<title>Bản đồ Gò Công</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_G%C3%B2_C%C3%B4ng&amp;diff=2999"/>
		<updated>2026-05-11T15:36:05Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&lt;br /&gt;
&amp;lt;gallery&amp;gt;&lt;br /&gt;
Province de Gocong (1909).jpg|Gò Công 1909&lt;br /&gt;
Go Cong Province 1881.jpg|Go Cong Province 1881&lt;br /&gt;
6329-4-Vietnamese-scaled.jpg|Gò Công Map&lt;br /&gt;
GoCong2-73.jpg|Gò Công Map&lt;br /&gt;
S-l1600.jpg|Gò Công 1970&lt;br /&gt;
Gò Công 1972.png|Gò Công 1972&lt;br /&gt;
Phường Gò Công.png|nhỏ|Gò Công sau sáp nhập&lt;br /&gt;
GOCONGTRAUTRAU.png|Gò Công Trau Trảu &lt;br /&gt;
22141223 1929046327357234 8060757527254258351 n (1).jpg|Gò Công Trau Trảu &lt;br /&gt;
13476480-n07-36880303524-ban-do-go-cong-1881-que-me-vua-tu-duc-1.jpg|Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi&lt;br /&gt;
Images2012852 z6513272361107 a081e51b729161da91c4ebbac616979a.jpg|Gò Công - Đồng Tháp&lt;br /&gt;
Tập tin:Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ - bản Việt Hóa.png|nhỏ|Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ.&lt;br /&gt;
Tập tin:NamKy1863.jpg|nhỏ|Bản đồ hành chính Nam Kỳ Lục tỉnh năm 1863, với 3 tỉnh miền đông là Gia Định, Định Tường và Biên Hòa đã thuộc Pháp, còn 3 tỉnh miền tây là An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên vẫn thuộc Đại Nam&lt;br /&gt;
Tập tin:Bản đồ địa hình Gò Công năm 1881.jpeg&lt;br /&gt;
&amp;lt;/gallery&amp;gt;&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Địa lý]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Hình ảnh]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%E1%BB%8Ba_h%C3%ACnh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_n%C4%83m_1881&amp;diff=2998</id>
		<title>Bản đồ địa hình Gò Công năm 1881</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%E1%BB%8Ba_h%C3%ACnh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_n%C4%83m_1881&amp;diff=2998"/>
		<updated>2026-05-11T15:35:30Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Tập tin:Bản đồ địa hình Gò Công năm 1881.jpeg”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;[[Tập tin:Bản đồ địa hình Gò Công năm 1881.jpeg]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BA%ADp_tin:B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%E1%BB%8Ba_h%C3%ACnh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_n%C4%83m_1881.jpeg&amp;diff=2997</id>
		<title>Tập tin:Bản đồ địa hình Gò Công năm 1881.jpeg</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BA%ADp_tin:B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%E1%BB%8Ba_h%C3%ACnh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_n%C4%83m_1881.jpeg&amp;diff=2997"/>
		<updated>2026-05-11T15:34:59Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: /* Miêu tả */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;== Miêu tả ==&lt;br /&gt;
Bib ID: 4503726&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Format: Map&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Author: Cochin China. Service du cadastre &amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Online Version: National Library of Australia digitised item&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Scale: Scale 1:00,000 (E 106°40&#039;/N 10°22&#039;)&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Description: [Hanoi]: Service du cadastre, 1881&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
1 map : col. ; 61.8 x 47.1 cm., on sheet 67.6 x 52.0 cm.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Notes: Topographic map of Gocong region, Vietnam.&lt;br /&gt;
&amp;quot;Gravé par J. Geisendörfer&amp;quot;.&lt;br /&gt;
Also available online http: /nla.gov.au/nla.obj-232448978&lt;br /&gt;
In French.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Subject: Gô Công Region (Vietnam) -- Maps&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Vietnam -- Administrative and political divisions -- Maps&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Genre/Form: Topographic maps&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Time Coverage: 1881&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Other authors/contributors: Geisendörfer, J&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Also Titled: Arrondissement de Gocong&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Reason for copyright status: Creator Date of Death is Before 1955&lt;br /&gt;
Copyright status was determined using the following information: &amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Material type: Artistic&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Presumed date of death of creator (latest date): 1881&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Published status: Published&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Publication date: 1881&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BA%ADp_tin:B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%E1%BB%8Ba_h%C3%ACnh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_n%C4%83m_1881.jpeg&amp;diff=2996</id>
		<title>Tập tin:Bản đồ địa hình Gò Công năm 1881.jpeg</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BA%ADp_tin:B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%E1%BB%8Ba_h%C3%ACnh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_n%C4%83m_1881.jpeg&amp;diff=2996"/>
		<updated>2026-05-11T15:33:48Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Bib ID: 4503726
Format: Map
Author: Cochin China. Service du cadastre
Online Version: National Library of Australia digitised item
Scale: Scale 1:00,000 (E 106°40&amp;#039;/N 10°22&amp;#039;)
Description: [Hanoi]: Service du cadastre, 1881
1 map : col. ; 61.8 x 47.1 cm., on sheet 67.6 x 52.0 cm.
Notes: Topographic map of Gocong region, Vietnam.
&amp;quot;Gravé par J. Geisendörfer&amp;quot;.
Also available online http: /nla.gov.au/nla.obj-232448978
In French.
Subject: Gô Công Region (Vietnam) -- Maps
Vietnam -- Administrative and…&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;== Miêu tả ==&lt;br /&gt;
Bib ID: 4503726&lt;br /&gt;
Format: Map&lt;br /&gt;
Author: Cochin China. Service du cadastre&lt;br /&gt;
Online Version: National Library of Australia digitised item&lt;br /&gt;
Scale: Scale 1:00,000 (E 106°40&#039;/N 10°22&#039;)&lt;br /&gt;
Description: [Hanoi]: Service du cadastre, 1881&lt;br /&gt;
1 map : col. ; 61.8 x 47.1 cm., on sheet 67.6 x 52.0 cm.&lt;br /&gt;
Notes: Topographic map of Gocong region, Vietnam.&lt;br /&gt;
&amp;quot;Gravé par J. Geisendörfer&amp;quot;.&lt;br /&gt;
Also available online http: /nla.gov.au/nla.obj-232448978&lt;br /&gt;
In French.&lt;br /&gt;
Subject: Gô Công Region (Vietnam) -- Maps&lt;br /&gt;
Vietnam -- Administrative and political divisions -- Maps&lt;br /&gt;
Genre/Form: Topographic maps&lt;br /&gt;
Time Coverage: 1881&lt;br /&gt;
Other authors/contributors: Geisendörfer, J&lt;br /&gt;
Also Titled: Arrondissement de Gocong&lt;br /&gt;
Reason for copyright status: Creator Date of Death is Before 1955&lt;br /&gt;
Copyright status was determined using the following information: &lt;br /&gt;
Material type: Artistic&lt;br /&gt;
Presumed date of death of creator (latest date): 1881&lt;br /&gt;
Published status: Published&lt;br /&gt;
Publication date: 1881&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=%C4%90%E1%BB%8Ba_Ph%C6%B0%C6%A1ng_Ch%C3%AD_v%C3%A0_Lu%E1%BA%ADt_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_t%E1%BB%89nh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_%C4%91%E1%BA%A7u_th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_XX&amp;diff=2995</id>
		<title>Địa Phương Chí và Luật Đường Bộ tỉnh Gò Công đầu thế kỷ XX</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=%C4%90%E1%BB%8Ba_Ph%C6%B0%C6%A1ng_Ch%C3%AD_v%C3%A0_Lu%E1%BA%ADt_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_t%E1%BB%89nh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_%C4%91%E1%BA%A7u_th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_XX&amp;diff=2995"/>
		<updated>2026-05-11T14:46:23Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Gò Công là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng của quê hương Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung. Đây là nơi có môi trường tự nhiên đa dạng, gồm không gian biển rộng lớn với nhiều cồn bãi, bờ biển dài 32 km, cùng dải đồng bằng ven biển với những cánh đồng lúa tươi tốt, từ lâu đã nổi tiếng với thương hiệu “gạo Gò Công”. Bên cạnh đó, Gò Công còn được biết đến với những vườn cây ăn trái ngọt lành, đặc biệt là sơ ri, dưa hấu, mãng cầu ta... Tất cả đã tạo nên một Gò Công trù phú, tươi đẹp, góp phần hình thành nền văn hóa đặc sắc, phong phú và đa dạng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người Việt từ miền Bắc và miền Trung đã đến khai hoang, lập ấp ở vùng đất Gò Công vào thế kỷ XVII. Khi định cư, các bậc tiền nhân đã sáng tạo nên nhiều loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể vừa phong phú, đa dạng, vừa mang đậm dấu ấn đặc thù, gắn liền với đời sống nông – ngư nghiệp kết hợp hướng biển. Người Việt chính là chủ thể khai phá và gắn bó với vùng đất Gò Công. Trong quá trình cộng cư, giao lưu và tiếp biến văn hóa với các tộc người khác như Hoa, Khmer, Chăm, Pháp..., cùng với bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, người dân nơi đây đã không ngừng làm giàu thêm bản sắc văn hóa độc đáo của Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với bề dày truyền thống lịch sử – văn hóa, Gò Công đã trở thành đề tài của nhiều công trình nghiên cứu về một vùng đất nổi tiếng “địa linh nhân kiệt”. Đặc biệt, sự ra đời của quyển Địa phương chí và Luật Đường bộ tỉnh Gò Công đầu thế kỷ XX, do nhà khảo cứu Võ Văn Hải – thành viên Viện Kỷ lục Việt Nam – biên dịch và chú giải, mang đến cho bạn đọc một tài liệu quý, góp phần tích cực vào việc tìm hiểu về Gò Công xưa. Đây là kết quả của quá trình lao động khoa học nghiêm túc, được tác giả dày công sưu tầm trong nhiều năm tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
https://books.google.com/books/about/%C4%90%E1%BB%8Ba_ph%C6%B0%C6%A1ng_ch%C3%AD_v%C3%A0_lu%E1%BA%ADt_%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dn.html?id=K7DFEQAAQBAJ&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=%C4%90%E1%BB%8Ba_Ph%C6%B0%C6%A1ng_Ch%C3%AD_v%C3%A0_Lu%E1%BA%ADt_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_t%E1%BB%89nh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_%C4%91%E1%BA%A7u_th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_XX&amp;diff=2994</id>
		<title>Địa Phương Chí và Luật Đường Bộ tỉnh Gò Công đầu thế kỷ XX</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=%C4%90%E1%BB%8Ba_Ph%C6%B0%C6%A1ng_Ch%C3%AD_v%C3%A0_Lu%E1%BA%ADt_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_t%E1%BB%89nh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_%C4%91%E1%BA%A7u_th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_XX&amp;diff=2994"/>
		<updated>2026-05-11T14:45:54Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Gò Công là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng của quê hương Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung. Đây là nơi có môi trường tự nhiên đa dạng, gồm không gian biển rộng lớn với nhiều cồn bãi, bờ biển dài 32 km, cùng dải đồng bằng ven biển với những cánh đồng lúa tươi tốt, từ lâu đã nổi tiếng với thương hiệu “gạo Gò Công”. Bên cạnh đó, Gò Công còn được biết đến với những vườn cây ăn trái ngọt lành, đặc biệt là sơ ri, dưa hấu, mãng cầu ta... Tất cả đã tạo nên một Gò Công trù phú, tươi đẹp, góp phần hình thành nền văn hóa đặc sắc, phong phú và đa dạng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người Việt từ miền Bắc và miền Trung đã đến khai hoang, lập ấp ở vùng đất Gò Công vào thế kỷ XVII. Khi định cư, các bậc tiền nhân đã sáng tạo nên nhiều loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể vừa phong phú, đa dạng, vừa mang đậm dấu ấn đặc thù, gắn liền với đời sống nông – ngư nghiệp kết hợp hướng biển. Người Việt chính là chủ thể khai phá và gắn bó với vùng đất Gò Công. Trong quá trình cộng cư, giao lưu và tiếp biến văn hóa với các tộc người khác như Hoa, Khmer, Chăm, Pháp..., cùng với bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, người dân nơi đây đã không ngừng làm giàu thêm bản sắc văn hóa độc đáo của Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với bề dày truyền thống lịch sử – văn hóa, Gò Công đã trở thành đề tài của nhiều công trình nghiên cứu về một vùng đất nổi tiếng “địa linh nhân kiệt”. Đặc biệt, sự ra đời của quyển Địa phương chí và Luật Đường bộ tỉnh Gò Công đầu thế kỷ&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
XX, do nhà khảo cứu Võ Văn Hải – thành viên Viện Kỷ lục Việt Nam – biên dịch và chú giải, mang đến cho bạn đọc một tài liệu quý, góp phần tích cực vào việc tìm hiểu về Gò Công xưa. Đây là kết quả của quá trình lao động khoa học nghiêm túc, được tác giả dày công sưu tầm trong nhiều năm tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
https://books.google.com/books/about/%C4%90%E1%BB%8Ba_ph%C6%B0%C6%A1ng_ch%C3%AD_v%C3%A0_lu%E1%BA%ADt_%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dn.html?id=K7DFEQAAQBAJ&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=%C4%90%E1%BB%8Ba_Ph%C6%B0%C6%A1ng_Ch%C3%AD_v%C3%A0_Lu%E1%BA%ADt_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_t%E1%BB%89nh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_%C4%91%E1%BA%A7u_th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_XX&amp;diff=2993</id>
		<title>Địa Phương Chí và Luật Đường Bộ tỉnh Gò Công đầu thế kỷ XX</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=%C4%90%E1%BB%8Ba_Ph%C6%B0%C6%A1ng_Ch%C3%AD_v%C3%A0_Lu%E1%BA%ADt_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_t%E1%BB%89nh_G%C3%B2_C%C3%B4ng_%C4%91%E1%BA%A7u_th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_XX&amp;diff=2993"/>
		<updated>2026-05-11T14:44:12Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Gò Công là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng của quê hương Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung. Đây là nơi có môi trường tự nhiên đa dạng, gồm không gian biển rộng lớn với nhiều cồn bãi, bờ biển dài 32 km, cùng dải đồng bằng ven biển với những cánh đồng lúa tươi tốt, từ lâu đã nổi tiếng với thương hiệu “gạo Gò Công”. Bên c…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Gò Công là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng của quê hương Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung. Đây là nơi có môi trường tự nhiên đa dạng, gồm không gian biển rộng lớn với nhiều cồn bãi, bờ biển dài 32 km, cùng dải đồng bằng ven biển với những cánh đồng lúa tươi tốt, từ lâu đã nổi tiếng với thương hiệu “gạo Gò Công”. Bên cạnh đó, Gò Công còn được biết đến với những vườn cây ăn trái ngọt lành, đặc biệt là sơ ri, dưa hấu, mãng cầu ta... Tất cả đã tạo nên một Gò Công trù phú, tươi đẹp, góp phần hình thành nền văn hóa đặc sắc, phong phú và đa dạng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người Việt từ miền Bắc và miền Trung đã đến khai hoang, lập ấp ở vùng đất Gò Công vào thế kỷ XVII. Khi định cư, các bậc tiền nhân đã sáng tạo nên nhiều loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể vừa phong phú, đa dạng, vừa mang đậm dấu ấn đặc thù, gắn liền với đời sống nông – ngư nghiệp kết hợp hướng biển. Người Việt chính là chủ thể khai phá và gắn bó với vùng đất Gò Công. Trong quá trình cộng cư, giao lưu và tiếp biến văn hóa với các tộc người khác như Hoa, Khmer, Chăm, Pháp..., cùng với bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, người dân nơi đây đã không ngừng làm giàu thêm bản sắc văn hóa độc đáo của Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với bề dày truyền thống lịch sử – văn hóa, Gò Công đã trở thành đề tài của nhiều công trình nghiên cứu về một vùng đất nổi tiếng “địa linh nhân kiệt”. Đặc biệt, sự ra đời của quyển Địa phương chí và Luật Đường bộ tỉnh Gò Công đầu thế kỷ&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
XX, do nhà khảo cứu Võ Văn Hải – thành viên Viện Kỷ lục Việt Nam – biên dịch và chú giải, mang đến cho bạn đọc một tài liệu quý, góp phần tích cực vào việc tìm hiểu về Gò Công xưa. Đây là kết quả của quá trình lao động khoa học nghiêm túc, được tác giả dày công sưu tầm trong nhiều năm tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Trang_Ch%C3%ADnh&amp;diff=2992</id>
		<title>Trang Chính</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Trang_Ch%C3%ADnh&amp;diff=2992"/>
		<updated>2026-05-11T14:41:16Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: /* Tài liệu tham khảo */&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&amp;lt;big&amp;gt;&#039;&#039;&#039;Gò Công - Bách khoa toàn thư&#039;&#039;&#039;&amp;lt;/big&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Gcoongorgg.jpg|nhỏ|Logo: Nguyen Pham]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Thanh lịch [[Gò Công]] xứ biết chơi,&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;[[Địa linh nhân kiệt|Địa linh nhơn kiệt]] quả như lời.&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Võ công hùng cứ bia ngàn thuở,&#039;&#039; &amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
&#039;&#039;Phạm tộc phủ thờ quới một nơi.&#039;&#039;&amp;lt;ref&amp;gt;[[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca]]&amp;lt;/ref&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công là tỉnh cũ ([[Tỉnh Gò Công]]) ở miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long), Việt Nam. Tỉnh này được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1900, tồn tại vào [[thời Pháp thuộc]] và bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể vào cuối năm 1956. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, sau đó tỉnh Gò Công lại được chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập vào năm 1963, tiếp tục tồn tại và bị mất tên gọi đơn vị hành chính cấp tỉnh từ tháng 2 năm 1976 cho đến 2025 thì bị sáp nhập vào tỉnh Đồng Tháp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tên gọi ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về các tên cũ của vùng đất Gò Công trong lịch sử, nó đã trải qua một số tên gọi và cách gọi khác nhau tùy theo thời kỳ và cách tổ chức hành chính:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable sortable hometable&amp;quot; style=&amp;quot;float:right; max-width:450px;&amp;quot;&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Gò Công&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tra cứu địa điểm Gò Công&lt;br /&gt;
|https://diadiemgocong.com&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Địa lý&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |&#039;&#039;&#039;Tọa độ:&#039;&#039;&#039; 10°22′B 106°40′Đ / 10,36°B 106,66°Đ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Diện tích&lt;br /&gt;
|102,36 km²&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Dân số (2022)&lt;br /&gt;
|151.937 người&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Mật độ&lt;br /&gt;
|1.4843 người/km²&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Dân tộc&lt;br /&gt;
|Chủ yếu là Kinh và Hoa&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Hành chính&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Quốc gia&lt;br /&gt;
|Việt Nam&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Vùng&lt;br /&gt;
|Tây Nam Bộ&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Thành lập&lt;br /&gt;
|16/2/1987&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tên gọi&lt;br /&gt;
|Các giả thuyết về [[tên gọi Gò Công]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Bản đồ&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
* [[Bản đồ Gò Công]]&lt;br /&gt;
* [[Thành phố Gò Công]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Khu vực&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công|Vùng Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Lôi Lạp]]&lt;br /&gt;
** [[Huyện Tân Hòa]]&lt;br /&gt;
** [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi]]&lt;br /&gt;
** [[Làng Thành Phố]]&lt;br /&gt;
** [[Tỉnh Gò Công]] ([[Tỉnh Gò Công 1900-1913; 1924-1954|1900-1913; 1924-1954,]] [[Tỉnh Gò Công 1968-1975|1968-1975]], [[Tỉnh Gò Công 1954-1956; 1963-1975|1954-1956; 1963-1975]], [[Quận Gò Công]])&lt;br /&gt;
** [[Thị trấn Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Thị xã Gò Công]] ([[Thị xã Gò Công 2020|2020]])&lt;br /&gt;
** [[Thành phố Gò Công]]&lt;br /&gt;
** [[Phường Gò Công]]&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công Đông|Vùng Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
** [[Gò Công Đông|Huyện Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
* [[:Thể loại:Gò Công Tây|Vùng Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
** [[Gò Công Tây|Huyện Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
*[[:Thể loại:Tân Phú Đông|Vùng Tân Phú Đông]]&lt;br /&gt;
**[[Huyện Tân Phú Đông]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Thơ ca - Nghệ thuật&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Ca dao|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Ca dao&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Nhạc Gò Công|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Nhạc Gò Công&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Văn thơ về Gò Công|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Văn thơ về Gò Công&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Văn hóa - Lễ hội&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Văn hóa|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Văn hóa&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Từ địa phương&lt;br /&gt;
| [[:Thể loại:Phương ngữ|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Phương ngữ&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Tên gọi - Địa Danh&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Danh xưng|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Danh xưng&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Địa lý|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Địa lý&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Đặc sản - Làng nghề&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Đặc sản|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Đặc sản&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Sản phẩm truyền thống|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Sản phẩm truyền thống&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Khảo cứu&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Tiểu sử|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Tiểu sử&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Tài liệu|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Tài liệu&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Hình ảnh|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Hình ảnh&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Chuyện xưa, Tích cũ|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Chuyện xưa, Tích cũ&amp;lt;/span&amp;gt;]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Giao thông - Vị trí&lt;br /&gt;
|[[:Thể loại:Đường Sá|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Đường Sá&amp;lt;/span&amp;gt;]] [[:Thể loại:Giáo dục|&amp;lt;span class=&amp;quot;gcbutton&amp;quot;&amp;gt;Giáo dục&amp;lt;/span&amp;gt;]] &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
!Nhóm Facebook&lt;br /&gt;
|https://www.facebook.com/groups/gocong&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Lôi Lạp]]&amp;lt;ref&amp;gt;Lôi Lạp (雷巤) chính là một tên gọi cũ, mang tính lịch sử của vùng đất Gò Công ngày nay (thuộc tỉnh Tiền Giang).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo các tài liệu lịch sử và địa chí:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vùng đất Lôi Lạp xưa được nhắc đến vào khoảng năm 1757, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lôi Lạp (雷巤) là tên gọi ban đầu của vùng bán đảo Gò Công hiện tại.&amp;lt;/ref&amp;gt; (雷巤): Đây là tên gọi của vùng đất này khi nó còn là một phủ của vương triều Khmer (Chân Lạp) trước năm 1757.&lt;br /&gt;
* [[Huyện Tân Hòa]]: Sau khi được Chúa Nguyễn tiếp quản, vùng Gò Công là một phần của huyện Tân Hòa, thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định. Lúc này, “Gò Công” chỉ là tên của nơi đặt lỵ sở (trung tâm hành chính) của huyện Tân Hòa.&lt;br /&gt;
* [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi]]: Vào thời vua Gia Long (đầu thế kỷ 19), trung tâm thị xã Gò Công ngày nay là hai thôn nhỏ này.&lt;br /&gt;
* [[Làng Thành Phố]]: Đến năm 1885, hai làng Thuận Tắc và Thuận Ngãi được sáp nhập và đổi tên thành “làng Thành Phố”. Đây là một cái tên khá độc đáo và có ý nghĩa quan trọng, cho thấy đây là một đô thị sớm phát triển ở Nam Kỳ.&amp;lt;ref&amp;gt;Gò Công – Bí ẩn Làng thành phố đầu tiên của lục tỉnh – Kỳ 1: Tìm lại dấu xưa Làng thành phố https://gocong.org/go-cong-bi-an-lang-thanh-pho-dau-tien-cua-luc-tinh-ky-1-tim-lai-dau-xua-lang-thanh-pho/&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bóng hình làng Thành Phố https://gocong.org/go-cong-bi-an-lang-thanh-pho-dau-tien-cua-luc-tinh-ky-1-tim-lai-dau-xua-lang-thanh-pho/ &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Pháp lập làng thành phố làm Tỉnh lỵ Gò Công https://gocong.org/phap-lap-lang-thanh-pho-lam-tinh-ly-go-cong/&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* [[Tỉnh Gò Công]]: Trong một số giai đoạn dưới thời Pháp thuộc và thời Việt Nam Cộng hòa, Gò Công được nâng lên thành một tỉnh riêng biệt, với tỉnh lỵ đặt tại làng Thành Phố (sau là [[xã Long Thuận]]).&lt;br /&gt;
* [[Thị xã Gò Công]]: Sau năm 1975, khi các tỉnh sáp nhập để thành lập tỉnh Tiền Giang, Gò Công trở thành thị xã thuộc tỉnh Tiền Giang. Thậm chí có một giai đoạn ngắn (năm 1977-1979), thị xã Gò Công còn bị hạ cấp thành thị trấn Gò Công thuộc huyện Gò Công.&lt;br /&gt;
* [[Thành phố Gò Công]]: Kể từ ngày 1 tháng 5 năm 2024, Thị xã Gò Công đã chính thức được công nhận là Thành phố Gò Công trực thuộc tỉnh Tiền Giang.&lt;br /&gt;
Tên gọi Gò Công còn chỉ:&lt;br /&gt;
* Huyện [[Gò Công Đông]]&lt;br /&gt;
* Huyện [[Gò Công Tây]]&lt;br /&gt;
* Tỉnh cũ Gò Công, tồn tại trong hai giai đoạn 1900-1956 và 1963-1976; nay là một phần tỉnh Tiền Giang&lt;br /&gt;
* Huyện cũ Gò Công, ban đầu thuộc tỉnh tỉnh Mỹ Tho và sau đó thuộc Tiền Giang cho đến năm 1979; tương ứng với địa bàn [[thành phố Gò Công]], Gò Công Đông, Gò Công Tây và [[Tân Phú Đông]] thuộc tỉnh Tiền Giang&lt;br /&gt;
* [[Thị trấn Gò Công|Thị trấn cũ Gò Công]] thuộc huyện Gò Công, tồn tại từ 1977 đến 1987; tương ứng với phường 1 và phường 2 thuộc thành phố Gò Công&lt;br /&gt;
* Địa danh cũ Gò Công thuộc [[tổng Long Vĩnh Hạ]], huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa xưa; nay thuộc phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức.&lt;br /&gt;
[[Tập tin:1881.jpg|nhỏ|Bản đồ Gò Công 1881]]&lt;br /&gt;
=== Thời nhà Nguyễn và đầu thời Pháp thuộc ===&lt;br /&gt;
Chúa Nguyễn Ánh sau khi chạy sang Xiêm, vào năm Đinh-Vị 1787 kéo quân trở về và qua vùng Gò Công (lúc đó thuộc huyện Tân-Hòa, tỉnh Định Tường), ông tiến hành củng cố quyền lực Nam Kỳ. [[Gò Công Được Lập Nền Hành Chánh]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công thuộc huyện [[Tân Hòa]], phủ [[Tân An]], tỉnh [[Gia Định]]. Năm 1885, người Pháp gọi vùng đất này là &amp;quot;[[Làng thành phố]]&amp;quot;, đô thị đầu tiên mang tên thành phố của Nam Kỳ Lục tỉnh, là sự hợp nhất của hai làng [[Thôn Thuận Tắc và Thuận Ngãi|Thuận Tắc và Thuận Ngãi]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Pháp thuộc ===&lt;br /&gt;
Năm 1876 Gò Công, vốn trước kia thuộc tỉnh [[Định Tường]] thời “[[Nam Kỳ Lục Tỉnh|Nam Kỳ lục tỉnh]]”&amp;lt;ref&amp;gt;Nam Kỳ Lục Tỉnh là tên gọi chính thức của sáu tỉnh thuộc miền Nam Việt Nam được người Pháp và triều Nguyễn tổ chức từ năm 1867–1868, sau khi Pháp chiếm trọn Nam Kỳ. Đây là giai đoạn hành chính quan trọng trong lịch sử Nam Bộ. &amp;lt;/ref&amp;gt; (tiếng Pháp: &#039;&#039;[[Cochinchine]]&#039;&#039;), trở thành một hạt tham biện (arrondissement) thuộc khu vực (circonscription) Mỹ Tho do thực dân Pháp đặt ra. Hạt tham biện (còn gọi là Tiểu khu hành chính, trị sở được dân gian quen gọi là tòa Bố) Gò Công gồm 4 tổng: [[Tổng Hòa Đồng Thượng|Hòa Đồng Thượng]] (có 8 làng), [[Tổng Hòa Đồng Hạ|Hòa Đồng Hạ]] (có 10 làng), [[Tổng Hòa Lạc Thượng|Hòa Lạc Thượng]] (có 10 làng), [[Tổng Hòa Lạc Hạ|Hòa Lạc Hạ]] (có 12 làng). Xem chi tiết bài [https://gocong.org/go-cong-tien-giang-hon-100-nam-truoc/ Gò Công – Tiền Giang hơn 100 năm trước]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Gò Công trở thành tỉnh Gò Công, với số tổng và số làng không đổi. Tỉnh lị là [[thị xã Gò Công]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, Gò Công trở thành quận thuộc tỉnh Mỹ Tho. Sau đó lại tái lập tỉnh Gò Công với 5 tổng, thêm [[tổng Hòa Đồng Trung]], số làng cũng thay đổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Việt Nam Cộng Hòa ===&lt;br /&gt;
Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sáp nhập tỉnh Gò Công vào tỉnh Định Tường mới thành lập trên phần đất tỉnh Mỹ Tho. Ngày 20 tháng 12 năm 1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập tỉnh Gò Công, tách từ tỉnh Định Tường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công là một tỉnh nhỏ, phía bắc với giáp hai tỉnh Long An và Gia Định, phía đông là biển Đông, phía nam giáp tỉnh Kiến Hòa, phía tây giáp tỉnh Định Tường. Ranh giới phía nam của Gò Công là [[sông Cửa Đại]], ranh giới phía bắc là [[Sông Vàm Cỏ|sông Vàm Cỏ Tây]], còn ranh giới phía đông bắc là sông Nhà Bè đổ ra cửa Soài Rạp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi mới tái lập tỉnh Gò Công gồm 2 quận [[Quận Châu Thành|Châu Thành]] (đổi tên từ [[quận Gò Công]]) và [[Quận Hòa Đồng|Hòa Đồng]] với 4 tổng 31 xã. Ngày 6 tháng 4 năm 1965, chia quận Châu Thành (tỉnh Gò Công) thành 2 quận: [[Quận Hòa Tân|Hòa Tân]], quận lỵ tại [[xã Tân Niên Tây]] với 9 xã; [[Quận Hòa Lạc|Hòa Lạc]], quận lỵ tại [[xã Tăng Hòa]] với 9 xã; chia [[quận Hòa Đồng]] thành 2 quận: Hòa Đồng, quận lỵ tại xã Vĩnh Bình với 8 xã; [[Quận Hòa Bình|Hòa Bình]], quận lỵ tại [[xã Bình Luông Đông]] với 5 xã. Như vậy tỉnh Gò Công có 4 quận.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 2 năm 1976 tỉnh Gò Công nhập với Mỹ Tho thành tỉnh Tiền Giang. Hiện nay địa bàn tỉnh Gò Công cũ tương ứng với thị xã Gò Công và các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ===&lt;br /&gt;
Tháng 2 năm 1976, tỉnh Gò Công hợp nhất với tỉnh Mỹ Tho và thành phố Mỹ Tho để trở thành tỉnh Tiền Giang. Đô thị Gò Công trở thành thị xã trực thuộc tỉnh Tiền Giang cho đến ngày nay. Chính quyền tỉnh Tiền Giang dự kiến đến năm 2025 thị xã Gò Công sẽ trở thành thành phố trực thuộc tỉnh.&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1976&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Cơ cấu hành chính ban đầu của Tiền Giang&lt;br /&gt;
|Tỉnh Tiền Giang có Thị xã Gò Công (đô thị Gò Công cũ) và huyện Gò Công (bao gồm phần đất còn lại).&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;Năm 1977&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Điều chỉnh hành chính cấp huyện&lt;br /&gt;
|Theo Quyết định số 77-CP, Thị xã Gò Công được chuyển thành Thị trấn Gò Công thuộc huyện Gò Công.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;Năm 1979&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Chia tách huyện Gò Công&lt;br /&gt;
|Huyện Gò Công được chia thành hai huyện mới: [[Huyện Gò Công Đông]] và [[Huyện Gò Công Tây]]. Thị trấn Gò Công lúc này thuộc huyện Gò Công Tây.&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1987&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Tái lập Thị xã Gò Công&lt;br /&gt;
|Theo Quyết định số 37-QĐ/HĐBT ngày 16/2/1987 của Hội đồng Bộ trưởng, Thị xã Gò Công được tái lập trên cơ sở tách ra từ huyện Gò Công Tây (bao gồm cả thị trấn Gò Công và một số xã lân cận).&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&#039;&#039;&#039;1994&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
|Thành lập các phường mới&lt;br /&gt;
|Chính phủ ban hành Nghị định 69-CP (23/6/1994) thành lập Phường 3 và Phường 4 thuộc Thị xã Gò Công.&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Thành Phố Gò Công ====&lt;br /&gt;
19/3/2024 Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập [[Thành phố Gò Công]] trực thuộc tỉnh Tiền Giang, trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của Thị xã Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1/5/2024 Nghị quyết thành lập Thành phố Gò Công có hiệu lực. Gò Công chính thức trở thành thành phố thứ hai của tỉnh Tiền Giang (sau thành phố Mỹ Tho), với 10 đơn vị hành chính cấp xã (7 phường và 3 xã).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Sáp Nhập vào Đồng Tháp ====&lt;br /&gt;
1/7/2025 Thành phố Gò Công bị giải thể.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Gò Công được sắp xếp lại và trở thành các [[:Thể loại:Gò Công - Đồng Tháp|phường/xã trực thuộc tỉnh Đồng Tháp]] mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điều chỉnh cấp xã tại Gò Công: Theo Nghị quyết 1663/NQ-UBTVQH15 năm 2025 các đơn vị hành chính cấp xã của Gò Công giảm từ 10 xuống còn 4 đơn vị hành chính mới. &lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|Đơn vị Hành chính Mới&lt;br /&gt;
|Loại hình&lt;br /&gt;
|Cơ sở hình thành (ĐVHC cũ của Thành phố Gò Công)&lt;br /&gt;
|Diện tích (km²)&lt;br /&gt;
|Dân số (người)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Gò Công]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường 1, Phường 5, và Phường Long Hòa.&lt;br /&gt;
|10,06&lt;br /&gt;
|36.124&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Long Thuận]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường 2 và Phường Long Thuận.&lt;br /&gt;
|8,3&lt;br /&gt;
|29.715&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Bình Xuân]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường Long Chánh và Xã Bình Xuân.&lt;br /&gt;
|34,42&lt;br /&gt;
|32.052&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|[[Phường Sơn Qui]]&lt;br /&gt;
|Phường&lt;br /&gt;
|Nhập toàn bộ: Phường Long Hưng, Xã Tân Trung, và Xã Bình Đông.&lt;br /&gt;
|49,49&lt;br /&gt;
|48.590&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&#039;&#039;&#039;Tóm tắt sự thay đổi:&#039;&#039;&#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trước 1/5/2024 (Thị xã Gò Công): Có 10 đơn vị (5 phường, 5 xã, sau đó được sắp xếp còn 7 phường, 3 xã).&lt;br /&gt;
* Sau 1/5/2024 (Thành phố Gò Công): Có 10 đơn vị cấp xã.&lt;br /&gt;
* Sau 1/7/2025 (Khu vực Gò Công thuộc tỉnh Đồng Tháp mới): [[:Thể loại:Gò Công - Đồng Tháp|Khu vực Gò Công]] cũ được tinh gọn thành 4 phường mới, đều mang loại hình Phường (vì khu vực đô thị trung tâm được sắp xếp thành các phường).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Địa danh cũ trở thành khu vực: Khu vực đô thị Gò Công cũ chuyển từ cấp Thành phố/Thị xã thành các phường/xã trực thuộc tỉnh Đồng Tháp mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Tóm tắt về Gò Công|Xem tóm tắt các cột mốc]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Văn hóa ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Đình cổ Tân Đông - Gò Công since 1892.jpg|nhỏ|Đình cổ Tân Đông - 1892]]&lt;br /&gt;
Là vùng đất giàu truyền thống văn hóa Nam Bộ, mang dấu ấn giao thoa giữa văn hóa nông thôn đồng bằng sông Cửu Long và ảnh hưởng đô thị từ thời Pháp thuộc. Văn hóa Gò Công thể hiện qua nhiều mặt:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Lễ hội và tín ngưỡng: ===&lt;br /&gt;
* Người dân duy trì các lễ hội truyền thống gắn với nông nghiệp, như lễ cúng đất, lễ cầu mưa, lễ hội đình làng, lễ hội Kỳ yên...&lt;br /&gt;
* Thờ cúng các anh hùng dân tộc và các vị thần linh địa phương vẫn phổ biến, thể hiện sự tôn kính tổ tiên và gắn bó cộng đồng.&lt;br /&gt;
* Tôn giáo tại Gò Công: Tại Gò Công, các tôn giáo chính bao gồm Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam. Theo Niên giám thống kê Tiền Giang năm 2020, toàn tỉnh có 11 tôn giáo khác nhau, trong đó Phật giáo và Công giáo chiếm tỷ lệ lớn nhất.&lt;br /&gt;
* [[Tủ thờ Gò Công]] là một phần quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng và đời sống tinh thần của người dân địa phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Các lễ hội đặc trưng: ====&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Anh hùng dân tộc Trương Định.jpg|nhỏ|Anh hùng dân tộc Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Lễ giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Nghinh Ông]] - Vàm Láng (tổ chức tại [[Lăng ông|Lăng Ông Nam Hải]], Gò Công Đông)&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Kỳ Yên]] (hay Lễ Cầu An, tổ chức tại các Đình làng, tiêu biểu như Kỳ Yên Vĩnh Bình ở Gò Công Tây)&lt;br /&gt;
* [[Lễ hội Quan Thánh Đế Quân]] (hay Vía Quan Thánh/Vía Ông, tổ chức tại Chùa Ông - Miếu Quan Đế, Thị xã Gò Công)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Ngôn ngữ và văn học dân gian: ===&lt;br /&gt;
* Tiếng nói địa phương mang âm hưởng Nam Bộ với nhiều từ ngữ cổ, gần gũi với đời sống sông nước.&lt;br /&gt;
* Các hình thức văn học dân gian như ca dao, tục ngữ, truyện kể phản ánh nếp sống, đạo đức và kinh nghiệm lao động của cư dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Kiến trúc và nghệ thuật: ===&lt;br /&gt;
* Đình, chùa, nhà cổ Gò Công thường mang kiến trúc Nam Bộ điển hình, kết hợp yếu tố Pháp – Việt từ thời thuộc địa.&lt;br /&gt;
* Nghệ thuật dân gian như hát bội, cải lương, múa dân gian vẫn được gìn giữ trong các dịp lễ hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Đời sống cộng đồng: ===&lt;br /&gt;
* Gò Công là vùng đất nông nghiệp trù phú, nên đời sống cộng đồng mang tính gắn kết, hiếu khách và trọng lễ nghĩa.&lt;br /&gt;
* Truyền thống nghề thủ công như dệt chiếu, làm nón lá vẫn tồn tại ở một số làng nghề.&lt;br /&gt;
== Con người ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Chan-dung-0-4851-1721729554.jpg|nhỏ|[[Nam Phương Hoàng hậu|Nam Phương Hoàng Hậu]]]]&lt;br /&gt;
Nơi đây có truyền thống học hành, nhiều người đỗ đạt cao trong các kỳ thi xưa rồi làm quan dưới các triều vua nhà Nguyễn. Ông [[Phạm Đăng Hưng]] đã từng làm quan Thượng thư dưới 3 triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Con gái ông là bà [[Từ Dụ Thái hậu|Phạm Thị Hằng]] là vợ vua Thiệu Trị, là mẹ vua Tự Đức tức [[Từ Dụ Thái hậu|Thái hậu Từ Dũ]] nổi tiếng trong lịch sử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công cũng là đất của hoàng hậu&amp;lt;ref&amp;gt;Tìm hiểu thêm: https://gocong.org/search/#gsc.tab=0&amp;amp;gsc.q=ho%C3%A0ng%20h%E1%BA%ADu&amp;amp;gsc.sort=&amp;lt;/ref&amp;gt;, người phụ nữ xứ này hãnh diện với tên gọi “Gò Công nhan sắc”; và Gò Công nổi tiếng với những nghệ nhân khéo tay, sáng tạo làm nên “cái tủ thờ” có giá trị văn hóa nghệ thuật mang tầm cỡ quốc gia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Giáo dục - Y tế ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Giáo dục ===&lt;br /&gt;
Thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: Gò Công nổi bật với phong trào [[:Thể loại:Giáo dục|văn hóa và giáo dục]]. Nhiều tác phẩm văn học quốc ngữ đầu tiên được xuất bản tại đây, như &#039;&#039;Việt âm văn uyển&#039;&#039; (1911). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay: Gò Công có hệ thống giáo dục đa dạng, từ mầm non đến trung cấp. Trường Trung cấp Gò Công cung cấp các ngành nghề như cơ khí, điện – điện tử, kế toán và dịch vụ. Ngoài ra, các nhóm trẻ cũng đóng góp vào việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Y tế ===&lt;br /&gt;
Trước năm 1975, Gò Công là một trong những trung tâm y tế quan trọng của miền Nam. Nơi đây có Bệnh viện Gò Công với quy mô lớn, phục vụ cho cả khu vực Gò Công và các huyện lân cận. Ngoài ra, các trạm y tế xã và đội ngũ y tế cơ sở cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở Gò Công, trận dịch kinh hoàng nhất xảy ra hồi năm 1905. Dịch tả xảy ra sau trận bão, có khoảng 50% dân số ở đây được ghi nhận là đã chết trong trận dịch này.  &amp;lt;ref&amp;gt;Theo Việt Cúc trong Gò Công cảnh cũ người xưa ghi lại:“ Mầm thời khí phát lên rồi mới bôn ba cứu chữa thì quá muộn. Phần đông dân chúng thuở ấy còn mê tín, chỉ cầu khẩn khấn vái tống ôn, không biết đến thuốc men, giữ vệ sinh. Người chết rất nhiều....Có gia đình nội trong 10 ngày chết 3 người. Có nhà thì đứa em chết sớm mai, chiều tối đứa chị chết.....Chết nhiều đến nỗi thiếu hòm, thiếu ván để đóng quách mà chôn....”&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Y tế Gò Công hiện nay đã có sự phát triển mạnh mẽ, với hệ thống cơ sở y tế đa dạng và chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao. Người dân Gò Công và các khu vực lân cận có thể tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao.[[Tập tin:6329-4-Vietnamese-scaled.jpg|nhỏ|Gò Công Map]]&lt;br /&gt;
== Kinh tế ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thời kỳ trước năm 1975 ===&lt;br /&gt;
Thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: Gò Công là một trong những trung tâm kinh tế, hành chính và văn hóa quan trọng của miền Nam. Sau năm 1862, làng Thuận Tắc trở thành trung tâm kinh tế, hành chính của chính quyền thuộc địa, với sự hình thành chợ Gò Công sầm uất nhất vùng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Nông nghiệp: Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa, cây ăn trái và thủy sản.&lt;br /&gt;
* Thủ công nghiệp: Phát triển các nghề thủ công như dệt chiếu, đan lát, làm gạch ngói, cung cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài vùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau 1975 ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Công nghiệp: Phát triển các khu công nghiệp như [[Khu công nghiệp dịch vụ dầu khí Soài Rạp|Khu công nghiệp Dịch vụ dầu khí Soài Rạp]], Khu công nghiệp Bình Đông, Khu công nghiệp Phú Tân, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.&lt;br /&gt;
* Nông nghiệp: Đẩy mạnh sản xuất nông sản chất lượng cao, ứng dụng công nghệ cao vào trồng trọt và chăn nuôi.&lt;br /&gt;
* Kinh tế biển: Gò Công Đông xác định kinh tế biển là hướng phát triển chủ đạo, với trọng tâm hoàn thiện hạ tầng đồng bộ phục vụ kinh tế - xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Giao thông ==&lt;br /&gt;
Trước năm 1975, giao thông Gò Công chủ yếu dựa vào đường thủy với hệ thống sông, rạch chằng chịt. Việc đi lại giữa Gò Công và Sài Gòn khi đó phần lớn qua [[phà Mỹ Lợi]] bắc ngang sông Vàm Cỏ. Tuyến phà này là cửa ngõ quan trọng nối liền Gò Công – Tân Hòa với quốc lộ 50, đồng thời là tuyến huyết mạch để vận chuyển hàng hóa, nông sản và hành khách giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau năm 1975, [[:Thể loại:Đường Sá|hệ thống giao thông Gò Công]] được cải thiện đáng kể. Quốc lộ 50 được mở rộng, nối thông đến Thành phố Hồ Chí Minh; [[cầu Mỹ Lợi]] được khánh thành năm 2015 thay thế phà cùng tên, tạo thuận lợi lớn cho việc giao thương. Ngoài ra, các tuyến đường tỉnh và liên huyện được nâng cấp, giúp Gò Công kết nối nhanh hơn với Mỹ Tho, Gò Công Đông, Gò Công Tây và vùng ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tên đường ở thành phố Gò Công trước năm 1975 ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Đường Phạm Đăng Hưng]] (cũ) nay là [[đường Trương Định]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Võ Tánh]] nay là [[đường Rạch Gầm]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Phan Thanh Giản]] nay là [[đường Lê Thị Hồng Gấm]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Tân Hội]] và [[Đường Nguyễn Trãi|Nguyễn Trãi]] nay là [[đường Phan Chu Trinh]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Lý Thường Kiệt]] nay là [[đường Phan Đình Phùng]]&lt;br /&gt;
* [[Cụm đường Huyện Nguơn, Chủ Sự Thiều, Tổng Thư, Đồ Chiểu|Đường Huyện Nguơn, Chủ Sự Thiều, Tổng Thư và Đồ Chiểu]] nay là [[đường Nguyễn Huệ]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Huyện Tri]] nay là [[đường Võ Duy Linh]]&lt;br /&gt;
* Đường Hai Bà Trưng, Duy Tân và Tổng Đốc Phương nay là [[đường Hai Bà Trưng]]&lt;br /&gt;
* Đường Joffre, Thái Lập Thành, [[Đường Hộ Mưu|Hộ Mưu]] nay là [[đường Nguyễn Văn Côn]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Thái Học]] nay là [[đường Thủ Khoa Huân]]&lt;br /&gt;
* Đường Phan Đình Phùng, Phan Châu Trinh nay là đường Nguyễn Trãi&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Văn Thinh]] nay là [[Quốc lộ 50]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Từ Dũ]] nay là [[đường Lý Tự Trọng]]&lt;br /&gt;
* Đường Hàm Nghi và [[Đường Lê Văn Duyệt|Lê Văn Duyệt]] nay là [[đường Lưu Thị Dung]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Gia Long]] và [[Đường Trần Hưng Đạo|Trần Hưng Đạo]] nay là đường Trần Hưng Đạo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Những con đường mất hẳn do quy hoạch ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Đường Đốc Phủ Vinh]]&lt;br /&gt;
* [[Hẻm số 13]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Trịnh Hoài Đức]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Paulus Của]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Công Trứ]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Nguyễn Du]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Cả]]&lt;br /&gt;
* [[Đường Pétrus Ký]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Địa Lý ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Gò Công ngập trong biển nước – Ảnh- tư liệu.jpg|nhỏ|Bão năm Giáp Thìn]]&lt;br /&gt;
Gò Công là một vùng đất thuộc tỉnh Tiền Giang, nằm ở phía Đông Nam của Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đất này có bờ biển dài hơn 32 km, giáp Biển Đông và nằm giữa các cửa sông lớn như Soài Rạp, Cửa Tiểu và Cửa Đại. Vị trí này rất thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Khí hậu ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình khoảng 27–27,9°C, lượng mưa trung bình từ 1.210 đến 1.424 mm/năm, giảm dần từ Bắc vào Nam&lt;br /&gt;
* Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 11, nhiệt độ cao và ẩm ướt, lượng mưa tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp và sinh thái.&lt;br /&gt;
Trận [[Bão năm Thìn|bão năm Giáp Thìn]] xảy ra vào ngày 1-5-1904, nhằm ngày 16-3 âm lịch, gây thiệt hại hầu hết các tỉnh ở Nam bộ. Trong đó, thiệt hại nặng nề nhất là Gò Công và vùng phụ cận, với trên 60% nhà bị sập đổ, 5.000 người chết trôi, 80% gia súc bị chết… Còn theo dân gian, truyền miệng qua thơ, vè, thì số người chết khoảng “một muôn hai” (tức khoảng 12.000 người).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sinh thái ===&lt;br /&gt;
Gò Công có hệ sinh thái phong phú, đặc biệt là hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển. Rừng ngập mặn tại các xã như Tân Thành và Vàm Láng có diện tích khoảng 1.210 ha, bao gồm cả rừng phòng hộ và bãi bồi ven biển. Hệ sinh thái này không chỉ là nơi sinh sống của nhiều loài động, thực vật, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển và phát triển du lịch sinh thái.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với bờ biển dài và hệ thống sông ngòi chằng chịt, Gò Công có tiềm năng lớn trong nuôi trồng và khai thác thủy sản. Các loài thủy sản nước lợ như tôm, cua, cá, sò, nghêu... có trữ lượng hàng năm ước tính khoảng 156.000 tấn tại các vùng cửa sông. Kinh tế biển không chỉ đóng góp vào thu nhập của người dân mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm và phát triển bền vững cho địa phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm Ất Tỵ (năm 1905), Gò Công bị nạn “[[Hoàng Trùng|hoàng trùng]]” (giặc châu chấu) phá hoại mùa màng khoảng gần nửa tháng, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp rất nặng nề. Người ta cho rằng, loài châu chấu này từ châu Phi tràn đến, chúng bay rợp trời, có đến hàng mấy triệu con mỗi đàn, đậu đáp ở đâu thì chỗ đó cây cỏ “trơ xương”, trụi lá. Năm sau thì bị nạn “[[Bạch Đồng|bạch đồng]]”. Suốt từ tháng 6 âm lịch đến tháng 10 năm Bính Ngọ (năm 1906) trời trong xanh, không có lấy một giọt mưa. Ban đêm sao sáng đầy trời. Khô hạn nhằm vào lúc nông dân sửa soạn làm lễ hạ điền, xuống giống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Du lịch ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Image-74.jpg|nhỏ|[[Dinh Chánh Tham Biện Gò Công]]]]&lt;br /&gt;
Gò Công đang phát triển du lịch sinh thái biển, kết hợp với văn hóa, lịch sử của vùng đất. Các điểm du lịch như Khu du lịch biển Tân Thành, vườn táo, di tích lịch sử cấp quốc gia và các cù lao ven biển thu hút du khách trong và ngoài tỉnh. Việc phát triển du lịch sinh thái không chỉ bảo tồn giá trị tự nhiên mà còn nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công có nhiều địa điểm du lịch văn hóa và sinh thái nổi bật, bao gồm: [[Dinh Đốc phủ Hải]] (Nhà Đốc Phủ Hải), [[Khu du lịch biển Tân Thành|Biển Tân Thành]] (Biển Gò Công), [[Đình Trung]], [[Lăng Hoàng Gia]] ([[Phạm Đăng Hưng|Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng]]), [[Đền thờ Trương Định|Đền thờ]] và [[Lăng mộ Trương Định|Lăng mộ]] anh hùng dân tộc [[Trương Định]], [[Mộ Bát Lăng]], [[Đình Tân Đông]] ([[Đình Gò Táo]]), [[Dinh Tỉnh Trưởng]] Gò Công, [[Khu du lịch sinh thái Làng Yến]], [[Khu mộ Đá Ong (Khu mộ Bà Tương)]], [[Miếu Võ Quốc Công|miếu thờ Võ Tánh]]...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Đặc sản - Ẩm thực ==&lt;br /&gt;
Gò Công là vùng đất nổi tiếng với nhiều đặc sản mang đậm hương vị Nam Bộ. Trong đó, sơ ri Gò Công và mắm Gò Công là hai sản vật tiêu biểu gắn liền với đời sống và văn hóa ẩm thực địa phương. [[Sơ ri Gò Công]] được trồng chủ yếu ở xã Tân Trung, Bình Xuân và phường 2, thị xã Gò Công, nổi tiếng nhờ trái nhỏ, vỏ mỏng, vị ngọt thanh và giàu vitamin C. Giống sơ ri này đã trở thành thương hiệu đặc trưng của vùng đất Gò Công ven biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Mắm Gò Công]] có nhiều loại như mắm tôm chua, mắm cá linh, mắm cá sặc... được chế biến theo phương pháp truyền thống, giữ nguyên hương vị mặn mòi của biển và đồng ruộng. Mắm Gò Công không chỉ là món ăn dân dã trong bữa cơm Nam Bộ mà còn là đặc sản được du khách tìm mua làm quà. [[Sam biển Gò Công]], [[Nghêu Gò Công]] là một loại hải sản đặc sản nổi bật ở vùng biển xã Vàm Láng, Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. [[Bánh giá Gò Công|Bánh vá]], còn gọi bánh giá, là món ăn đặc sản chỉ thấy ở Gò Công (Tiền Giang), đặc biệt nổi tiếng tại Chợ Giồng (Gò Công Tây).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các đặc sản khác: [[Vọp Gò Công]], [[Nham Gò Công]], [[Hủ tíu Gò Công]], [[Tôm xe cán]], [[Bông lục bình]], [[Cá bống dừa]], [[Gỏi Nham Gò Công]], [[Dưa hấu Gò Công]], [[Chè Sơn Qui]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Văn chương - Thơ ca&amp;lt;ref&amp;gt;Tham khảo https://ca-dao.com/&amp;lt;/ref&amp;gt; ==&lt;br /&gt;
Gò Công cũng có nhiều cây bút Hán Nôm khá nổi tiếng như Tú tài [[Trần Văn Hội]] (Tú Hội), [[Trần Quang Hùng]] (Chủ Hùng), [[Ông Chủ Sự Thiều|Trần Đình Thiều]] (Chủ sự Thiều), [[Huỳnh Đình Nguơn|Huỳnh Đình Ngươn]]... Một số bài thơ Nôm của Huỳnh Đình Ngươn hiện còn được lưu giữ là [[Bóng người|Bóng người,]] [[Uống rượu say]], Cọp vẽ, [[Đi xe lửa]], Ngựa sút chuồng bị phạt, đặc biệt là bài cửu thủ liên hoàn Du hoạn ư Tho giang cảm tác... Khi ông mất, 20 năm sau, Lê Sum đã phiên âm bài nầy ra chữ quốc ngữ và in trong Việt âm Văn uyển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây cũng là quê hương của nữ thi sĩ [[Nguyễn Thị Kiêm|Lê Thị Kim]] (nữ sĩ [[Nguyễn Thị Manh Manh|Manh Manh]]) và [[Phan Thị Bạch Vân]], chủ nhân Nữ lưu thơ quán Gò Công.  &lt;br /&gt;
=== Thơ về Gò Công&amp;lt;ref&amp;gt;Thơ về Gò Công https://gocong.org/book/tuyen-tap-tho-go-cong/&amp;lt;/ref&amp;gt; ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca ====&lt;br /&gt;
Gò Công cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều thi sĩ. Nhà thơ Nguyễn Liên Phong đã viết trong [[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca]]:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Thanh lịch Gò-công xứ biết chơi,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Địa linh nhơn kiệt quả như lời.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Vỏ-công hùng cứ bia ngàn thuở,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Phạm-Tộc phủ thờ quới một nơi.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Phát trước nhiều ông danh tiếng rạng,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Nối sau chán kẻ hiển vinh đời.&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Năm thìn ruổi mắc cơn giông bão,&lt;br /&gt;
&amp;lt;br /&amp;gt;Dựng lại bằng xưa cũng phước trời.&lt;br /&gt;
[[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca|Đọc thêm]]&amp;lt;/blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Kỷ niệm Gò Công ====&lt;br /&gt;
Bài thơ này ca ngợi vẻ đẹp thanh lịch và truyền thống văn hóa của Gò Công. Ngoài ra, nhà thơ Bùi Giáng trong bài &amp;quot;[[Kỷ niệm Gò Công (Bùi Giáng)|Kỷ niệm Gò Công]]&amp;quot; cũng đã viết:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Bên vườn ngày ấy có mai&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nở hoa bên trúc một ngày đầu xuân&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ấy ngày tôi đến Gò Công&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ba mươi năm vẫn còn mong trở về&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Về xem trở lại sơn khê&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò Công còn có như ngày đầu tiên&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Bên vườn còn bóng thuyền quyên?&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Đi về phảng phất thần tiên điệu đàn&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Về sau bỗng gặp muôn vàn&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Giấc trưa giờ ngọ một nàng Tiên Ngâu&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nàng tiên ấy đã đi đâu&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Hay còn lẩn quất giữa màu lá cây?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Kỷ niệm Gò Công (Bùi Giáng)|Đọc thêm]]&lt;br /&gt;
&amp;lt;/blockquote&amp;gt;Bài thơ này thể hiện nỗi nhớ và tình cảm sâu sắc của tác giả đối với Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Hồn đất Gò Công ====&lt;br /&gt;
Bài thơ viết về những tên gọi Gò Công theo thời gian&amp;lt;ref&amp;gt;Bài “Hồn đất Gò Công” là một trường ca địa – sử – văn hóa, viết theo lối biên niên bằng thơ, kết hợp giữa địa chí, sử ký và cảm thức thi ca. Bài thơ nhằm ghi lại lịch sử tên gọi và thân phận hành chính của đất Gò Công qua các thời kỳ, nhưng không viết bằng văn xuôi khô cứng mà bằng hồn thơ địa linh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây không chỉ là bài thơ “kể tên”, mà là bản tuyên ngôn mềm về căn tính Gò Công.&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò Công, vùng đất tứ linh;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Cánh chim nhạn trắng, đượm tình biển khơi.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Mênh mang sóng vỗ muôn đời;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gió đưa gió đẩy, về nơi ăn còng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khổng Tước Nguyên, thuở sơ phong;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gò cao rợp bóng chim Công lượn vòng.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Rừng xanh cây trái đơm bông;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Dấu xưa ghi tạc giữa lòng núi sông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngược dòng lịch sử ghi lòng;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Lôi Lạp thuở ấy, khơi dòng khởi nguyên.&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Tên xưa phủ cũ, lưu truyền;&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Vạn trường khuất nẻo, biến thiên đổi dời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Hồn đất Gò Công|Đọc thêm]]&amp;lt;/blockquote&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Ca dao ===&lt;br /&gt;
Một trong những câu ca dao nổi tiếng về Gò Công là:&amp;lt;blockquote&amp;gt;&amp;quot;Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,&amp;lt;br&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gió nào độc bằng gió Gò Công.&amp;quot;&amp;lt;/blockquote&amp;gt;Câu ca dao này không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của Gò Công mà còn phản ánh sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Có đứa nào xạo bằng thằng Út Gò Công&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh đi đóng đáy Bãi Ngang&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Ngó qua Láng Lộc thấy nàng lượm tôm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai về Tân Phước Rạch Già&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Gởi con cá lóc hái cà nấu canh&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh đi chuyến gạo Gò Công,&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Anh về Bao Ngược&amp;lt;ref&amp;gt;&#039;&#039;Vàm Bao Ngược: Tên cửa sông tiếp giáp giữa sông Vàm Cỏ và sông Soài Rạp, thuộc địa phận huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Lòng sông ở đây sâu, nước chảy mạnh, thường có sóng to gió lớn, nên trước đây thường xảy ra tai nạn đắm thuyền.&#039;&#039;&amp;lt;/ref&amp;gt;, bị giông đứt buồm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh ơi về tới Gò Công&amp;lt;br /&amp;gt;&lt;br /&gt;
Nhớ mua bánh giá chợ Giồng tặng em&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây cũng là quê hương của nhà văn [[Hồ Biểu Chánh]], nhà văn Sơn Vương... Trong những năm 1925-1930, tại đây đã có Nhà xuất bản Nữ lưu thơ quán của [[Phan Thị Bạch Vân]] nổi tiếng toàn quốc, tập hợp nhiều cây bút tiến bộ đương thời cổ động cho nữ giới mở mang học vấn và bảo vệ luân lý đạo đức.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Âm Nhạc ==&lt;br /&gt;
[[File:Mẹ Gò Công - Bảo Yến.mp4|thumb|400px|Mẹ Gò Công - Bảo Yến - [[:Thể loại:Nhạc Gò Công|Nhạc Gò Công]]]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vùng đất Gò Công là nơi sản sinh ra nhiều nhạc sĩ tài năng, góp phần làm phong phú nền âm nhạc trữ tình Việt Nam, đặc biệt là dòng nhạc quê hương, tiền chiến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai tên tuổi tiêu biểu là nhạc sĩ [[Lê Dinh]] và [[Hoàng Phương]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Lê Dinh]] (1934 – 2020), thành viên của nhóm Lê Minh Bằng nổi tiếng, là tác giả của nhiều ca khúc được yêu mến như &#039;&#039;Tình yêu trả lại trăng sao&#039;&#039;, &#039;&#039;Bảo Tố&#039;&#039;, và là người thầy dạy nhạc cho nhạc sĩ Hoàng Phương.&lt;br /&gt;
* [[Hoàng Phương]] (1943 – 2002) được mệnh danh là &amp;quot;Ông hoàng nhạc Gò Công&amp;quot; với những sáng tác mang âm hưởng dân ca, trữ tình sâu lắng. Tác phẩm nổi bật nhất của ông là &amp;quot;Hoa sứ nhà nàng&amp;quot; (&#039;&#039;Hoa sứ nhà em&#039;&#039;) đã &amp;quot;làm mưa làm gió&amp;quot; khắp nơi, cùng với &amp;quot;[[Mẹ Gò Công]]&amp;quot;, &amp;quot;[[Chuyện tình hoa muống biển]]&amp;quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tác phẩm của những nhạc sĩ Gò Công, đặc biệt là nhạc của Hoàng Phương, đã được nhiều ca sĩ tên tuổi thể hiện thành công, trong đó có Bảo Yến (người đã góp phần làm nên tên tuổi cho băng nhạc Gò Công nổi tiếng thập niên 1980) và Phương Dung.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những sản phẩm độc đáo của vùng Gò Công như: điệu [[Lý Con Sáo Gò Công|lý con sáo Gò Công]], vẫn còn được lưu giữ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Ghi chú ==&lt;br /&gt;
&amp;lt;references /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tài liệu tham khảo ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Việt Cúc: [[Gò Công cảnh cũ người xưa]], Tự xuất bản 1969&lt;br /&gt;
* Girmeld Monographie de province de Go Cong 1936, Tham biện Chủ tỉnh Gò Công, Người dịch: Huỳnh Văn Phát.&lt;br /&gt;
* Huỳnh Minh: [[Gò Công xưa|Gò Công xưa và nay]], NXB Cánh Bằng, 1969.&lt;br /&gt;
* Gia phả họ Trần (bản chữ Quốc ngữ), Gia pháp gia đình họ Trần – Gò Công (họ Trần của bà Trần Thị Sanh, người vợ thứ của Trương Định)&lt;br /&gt;
* [[Gia Định Thành Thông Chí|Gia Định thành thông chí]] (嘉定城通志) hay &#039;&#039;Gia Định thông chí&#039;&#039; (嘉定通志) là một quyển địa chí của Trịnh Hoài Đức (1765-1825) viết về miền đất Gia Định bằng chữ Nho và chữ Nôm, là một sử liệu quan trọng về Nam Bộ thời nhà Nguyễn.&lt;br /&gt;
* [[Nam Kỳ Và Cư Dân Các Tỉnh Miền Đông|Nam kỳ và cư dân: Các tỉnh miền Đông]] - J. C. Baurac&lt;br /&gt;
* [[South Vietnam]] - Official Standard Names Approved by the United States Board on Geographic Names, 1971&lt;br /&gt;
* [[Địa chí Tiền Giang]] - Trần Hoàng Diệu, Nguyễn Anh Tuấn, 2005&lt;br /&gt;
* [[Tự vị tiếng nói miền Nam]] - Vương Hồng Sến, 1998&lt;br /&gt;
* [[Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ]] - Nguyễn Đình Tư, 2008&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Vọng Tiếng Đất Lành]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Lặng Thầm Hương Sắc]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Thao Thức Dấu Xưa]] - Phan Thanh Sắc, 2020&lt;br /&gt;
* [[Gò Công Từ Làng Thành Phố]] - Phan Thanh Sắc, 2022&lt;br /&gt;
* [[Địa Phương Chí và Luật Đường Bộ tỉnh Gò Công đầu thế kỷ XX]] - Võ Văn Hải, 2025&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thống kê ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;p&amp;gt;Chúng ta có khoảng &#039;&#039;&#039;{{NUMBEROFPAGES}}&#039;&#039;&#039; trang nội dung các loại&amp;lt;/p&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;p&amp;gt;&#039;&#039;&#039;Mời đóng góp:&#039;&#039;&#039; [[Đặc biệt:Trang cần thiết|Trang cần viết]]&amp;lt;/p&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;div style=&amp;quot;background: aliceblue;padding: 15px;border: 1px solid #4054af;border-radius: 3px;color:#ed5381; margin-bottom:15px&amp;quot;&amp;gt;Trang nầy có một số thông tin ngắn gọn (ví dụ như tiểu sử [[Nam Phương Hoàng hậu]]). Vì vậy hãy tìm thêm trên trang chính https://gocong.org/search để xem những bài viết dài, phân tích chi tiết hơn.&amp;lt;/div&amp;gt;&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=R%E1%BA%A1ch_L%C3%A1&amp;diff=2991</id>
		<title>Rạch Lá</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=R%E1%BA%A1ch_L%C3%A1&amp;diff=2991"/>
		<updated>2026-04-29T15:27:17Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Rạch nước nhỏ trong khu vực Gò Công, liên quan đến địa danh &amp;quot;Gò Công – Rạch Lá&amp;quot; để phân biệt với Gò Công ở Trao Trảo (Thủ Đức).”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Rạch nước nhỏ trong khu vực Gò Công, liên quan đến địa danh &amp;quot;Gò Công – Rạch Lá&amp;quot; để phân biệt với Gò Công ở Trao Trảo (Thủ Đức).&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=S%C3%B4ng_S%C6%A1n_Quy&amp;diff=2990</id>
		<title>Sông Sơn Quy</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=S%C3%B4ng_S%C6%A1n_Quy&amp;diff=2990"/>
		<updated>2026-04-29T15:26:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Còn gọi là Giồng Sơn Quy (Gò Rùa). Cách trung tâm thành phố Gò Công khoảng 3 km về hướng Tây Bắc, thuộc xã Long Hưng (nay là phường Long Hưng). Giồng kéo dài từ vàm Sơn Quy ở phía Nam đến Láng Chim ở phía Bắc, giáp sông Vàm Cỏ. Đây là tổ quán của đức Thái Hậu Từ Dụ (Từ Dũ). Tên Sơn Quy có nghĩa là &amp;quot;Gò Rùa&amp;quot; do nơi đây thuở xưa có nhiều rùa sinh sống, hoặc do hình dạng g…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Còn gọi là Giồng Sơn Quy (Gò Rùa). Cách trung tâm thành phố Gò Công khoảng 3 km về hướng Tây Bắc, thuộc xã Long Hưng (nay là phường Long Hưng). Giồng kéo dài từ vàm Sơn Quy ở phía Nam đến Láng Chim ở phía Bắc, giáp sông Vàm Cỏ. Đây là tổ quán của đức Thái Hậu Từ Dụ (Từ Dũ). Tên Sơn Quy có nghĩa là &amp;quot;Gò Rùa&amp;quot; do nơi đây thuở xưa có nhiều rùa sinh sống, hoặc do hình dạng giồng giống con rùa nằm.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_trung_h%E1%BB%8Dc_ph%E1%BB%95_th%C3%B4ng_V%C4%A9nh_B%C3%ACnh&amp;diff=2989</id>
		<title>Trường trung học phổ thông Vĩnh Bình</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_trung_h%E1%BB%8Dc_ph%E1%BB%95_th%C3%B4ng_V%C4%A9nh_B%C3%ACnh&amp;diff=2989"/>
		<updated>2026-04-29T15:26:26Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Trường THPT tọa lạc tại khu vực Vĩnh Bình (nay là thị trấn Vĩnh Bình, huyện Gò Công Tây). Nhiều năm có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt 100%.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Trường THPT tọa lạc tại khu vực Vĩnh Bình (nay là thị trấn Vĩnh Bình, huyện Gò Công Tây). Nhiều năm có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt 100%.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=C%C3%B4ng_s%E1%BB%9F_Ph%C6%B0%E1%BB%9Bc_Ch%C3%A2u&amp;diff=2988</id>
		<title>Công sở Phước Châu</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=C%C3%B4ng_s%E1%BB%9F_Ph%C6%B0%E1%BB%9Bc_Ch%C3%A2u&amp;diff=2988"/>
		<updated>2026-04-29T15:25:49Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Hội quán của người Hoa gốc Phúc Châu tại Gò Công.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Hội quán của người Hoa gốc Phúc Châu tại Gò Công.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=C%C3%B4ng_s%E1%BB%9F_Qu%E1%BA%A3ng_%C4%90%C3%B4ng&amp;diff=2987</id>
		<title>Công sở Quảng Đông</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=C%C3%B4ng_s%E1%BB%9F_Qu%E1%BA%A3ng_%C4%90%C3%B4ng&amp;diff=2987"/>
		<updated>2026-04-29T15:25:38Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Hội quán của người Hoa gốc Quảng Đông tại Gò Công, thường gắn với chùa Ông (Quan Công).”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Hội quán của người Hoa gốc Quảng Đông tại Gò Công, thường gắn với chùa Ông (Quan Công).&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=C%C3%B4ng_s%E1%BB%9F_Tri%E1%BB%81u_Ch%C3%A2u&amp;diff=2986</id>
		<title>Công sở Triều Châu</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=C%C3%B4ng_s%E1%BB%9F_Tri%E1%BB%81u_Ch%C3%A2u&amp;diff=2986"/>
		<updated>2026-04-29T15:25:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Hội quán của người Hoa gốc Triều Châu (Teochew) tại Gò Công. Cộng đồng Triều Châu đông đảo ở miền Nam Việt Nam trong thời Pháp thuộc.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Hội quán của người Hoa gốc Triều Châu (Teochew) tại Gò Công. Cộng đồng Triều Châu đông đảo ở miền Nam Việt Nam trong thời Pháp thuộc.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=C%C3%B4ng_s%E1%BB%9F_H%E1%BA%B9&amp;diff=2985</id>
		<title>Công sở Hẹ</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=C%C3%B4ng_s%E1%BB%9F_H%E1%BA%B9&amp;diff=2985"/>
		<updated>2026-04-29T15:25:09Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Hội quán Phúc Kiến Hội quán của người Hoa gốc Phúc Kiến (Hẹ là từ chỉ người Hẹ/Hakka) tại Gò Công. Cộng đồng người Hoa đã định cư và buôn bán tại Gò Công từ thế kỷ XIX.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Hội quán Phúc Kiến&lt;br /&gt;
Hội quán của người Hoa gốc Phúc Kiến (Hẹ là từ chỉ người Hẹ/Hakka) tại Gò Công. Cộng đồng người Hoa đã định cư và buôn bán tại Gò Công từ thế kỷ XIX.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Ph%C3%BA_V%E1%BA%A1n_mi%E1%BA%BFu&amp;diff=2984</id>
		<title>Phú Vạn miếu</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Ph%C3%BA_V%E1%BA%A1n_mi%E1%BA%BFu&amp;diff=2984"/>
		<updated>2026-04-29T15:24:33Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Cơ sở thờ tự của cộng đồng người Hoa (Phúc Kiến hoặc Quảng Đông) tại khu vực Gò Công, theo truyền thống thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu hoặc các vị thần phù hộ thương nhân.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Cơ sở thờ tự của cộng đồng người Hoa (Phúc Kiến hoặc Quảng Đông) tại khu vực Gò Công, theo truyền thống thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu hoặc các vị thần phù hộ thương nhân.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=%C4%90%C3%ACnh_Thu%E1%BA%ADn_Ng%C3%A3i&amp;diff=2983</id>
		<title>Đình Thuận Ngãi</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=%C4%90%C3%ACnh_Thu%E1%BA%ADn_Ng%C3%A3i&amp;diff=2983"/>
		<updated>2026-04-29T15:24:03Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Đình làng Thuận Ngãi – một trong hai làng cổ hợp thành làng Thành Phố (nay là trung tâm thành phố Gò Công). Đình thờ Thần Thành hoàng theo truyền thống. Làng Thuận Ngãi cùng với làng Thuận Tắc là hai làng cổ nhất nơi đặt tỉnh lỵ Gò Công.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Đình làng Thuận Ngãi – một trong hai làng cổ hợp thành làng Thành Phố (nay là trung tâm thành phố Gò Công). Đình thờ Thần Thành hoàng theo truyền thống. Làng Thuận Ngãi cùng với làng Thuận Tắc là hai làng cổ nhất nơi đặt tỉnh lỵ Gò Công.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Th%C3%A1nh_th%E1%BA%A5t_Cao_%C4%90%C3%A0i&amp;diff=2982</id>
		<title>Thánh thất Cao Đài</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Th%C3%A1nh_th%E1%BA%A5t_Cao_%C4%90%C3%A0i&amp;diff=2982"/>
		<updated>2026-04-29T15:23:38Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Cơ sở thờ tự của đạo Cao Đài tại thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Đạo Cao Đài có mặt tại Gò Công từ những năm đầu thành lập (thập niên 1920–1930).”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Cơ sở thờ tự của đạo Cao Đài tại thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Đạo Cao Đài có mặt tại Gò Công từ những năm đầu thành lập (thập niên 1920–1930).&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BB%8Bnh_x%C3%A1_Ng%E1%BB%8Dc_Hi%E1%BB%87p&amp;diff=2981</id>
		<title>Tịnh xá Ngọc Hiệp</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BB%8Bnh_x%C3%A1_Ng%E1%BB%8Dc_Hi%E1%BB%87p&amp;diff=2981"/>
		<updated>2026-04-29T15:23:24Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Thuộc hệ thống tịnh xá Ngọc của Giáo hội Phật giáo Khất sĩ, toạ lạc tại khu vực Gò Công, tỉnh Tiền Giang.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Thuộc hệ thống tịnh xá Ngọc của Giáo hội Phật giáo Khất sĩ, toạ lạc tại khu vực Gò Công, tỉnh Tiền Giang.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BB%8Bnh_x%C3%A1_Ng%E1%BB%8Dc_Quang&amp;diff=2980</id>
		<title>Tịnh xá Ngọc Quang</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BB%8Bnh_x%C3%A1_Ng%E1%BB%8Dc_Quang&amp;diff=2980"/>
		<updated>2026-04-29T15:23:12Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Thuộc hệ thống tịnh xá Ngọc của Giáo hội Phật giáo Khất sĩ, toạ lạc tại khu vực Gò Công, tỉnh Tiền Giang.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Thuộc hệ thống tịnh xá Ngọc của Giáo hội Phật giáo Khất sĩ, toạ lạc tại khu vực Gò Công, tỉnh Tiền Giang.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Ch%C3%B9a_Thi%C3%AAn_Li%C3%AAn&amp;diff=2979</id>
		<title>Chùa Thiên Liên</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Ch%C3%B9a_Thi%C3%AAn_Li%C3%AAn&amp;diff=2979"/>
		<updated>2026-04-29T15:22:45Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Tọa lạc tại thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Là một ngôi chùa Phật giáo nằm giữa lòng thành phố Gò Công, mang lại không gian tâm tịnh giữa phố thị.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Tọa lạc tại thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Là một ngôi chùa Phật giáo nằm giữa lòng thành phố Gò Công, mang lại không gian tâm tịnh giữa phố thị.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Ch%C3%B9a_T%C3%A2n_B%E1%BB%ADu&amp;diff=2978</id>
		<title>Chùa Tân Bửu</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Ch%C3%B9a_T%C3%A2n_B%E1%BB%ADu&amp;diff=2978"/>
		<updated>2026-04-29T15:22:32Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Địa chỉ: 92 ấp Long Hưng, xã Long Chánh (nay là phường Long Chánh), thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Được thành lập năm 1946 bởi ông Ngô Văn Điều trên diện tích 680m². Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông Ngô Văn Điểu đã hiến tặng căn nhà của mình làm chùa và nơi che chở cho cán bộ Việt Minh hoạt động.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Địa chỉ: 92 ấp Long Hưng, xã Long Chánh (nay là phường Long Chánh), thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Được thành lập năm 1946 bởi ông Ngô Văn Điều trên diện tích 680m². Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông Ngô Văn Điểu đã hiến tặng căn nhà của mình làm chùa và nơi che chở cho cán bộ Việt Minh hoạt động.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Ch%C3%B9a_Hu%E1%BB%87_Quang&amp;diff=2977</id>
		<title>Chùa Huệ Quang</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Ch%C3%B9a_Hu%E1%BB%87_Quang&amp;diff=2977"/>
		<updated>2026-04-29T15:22:21Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Địa chỉ: Số 5, đường Võ Duy Linh, Phường 5, thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Được thành lập năm 1930 bởi Hòa thượng Thích Bửu Thắng. Ban đầu có tên là chùa Thiên Ngươn, thuộc hệ phái Phật giáo Cổ truyền. Khởi nguyên chỉ là một thảo am vách lá để tịnh tu. Đến năm 1964, chuyển sang sinh hoạt theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trực thuộc Tổ đình Ấn Quan…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Địa chỉ: Số 5, đường Võ Duy Linh, Phường 5, thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Được thành lập năm 1930 bởi Hòa thượng Thích Bửu Thắng. Ban đầu có tên là chùa Thiên Ngươn, thuộc hệ phái Phật giáo Cổ truyền. Khởi nguyên chỉ là một thảo am vách lá để tịnh tu. Đến năm 1964, chuyển sang sinh hoạt theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trực thuộc Tổ đình Ấn Quang. Từng là nơi đặt Văn phòng Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Gò Công (cũ).&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Ch%C3%B9a_B%E1%BB%ADu_H%C6%B0ng&amp;diff=2976</id>
		<title>Chùa Bửu Hưng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Ch%C3%B9a_B%E1%BB%ADu_H%C6%B0ng&amp;diff=2976"/>
		<updated>2026-04-29T15:22:07Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Chùa Bửu Hưng (Bửu Hưng Tự) tọa lạc tại ấp Phú Quới, xã Yên Luông, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. Được khai sáng năm Mậu Thân (1968) bởi Hòa thượng Thiện Tôn, tu theo tông Tịnh Độ, nhằm tạo chỗ dựa tinh thần cho dân làng trong thời chiến. Công trình ban đầu bằng vật liệu bán kiên cố. Năm 2016 được trùng tu khang trang. Được UBND huyện Gò Công Tây công nhận là cơ…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Chùa Bửu Hưng (Bửu Hưng Tự) tọa lạc tại ấp Phú Quới, xã Yên Luông, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. Được khai sáng năm Mậu Thân (1968) bởi Hòa thượng Thiện Tôn, tu theo tông Tịnh Độ, nhằm tạo chỗ dựa tinh thần cho dân làng trong thời chiến. Công trình ban đầu bằng vật liệu bán kiên cố. Năm 2016 được trùng tu khang trang. Được UBND huyện Gò Công Tây công nhận là cơ sở thờ tự văn hóa năm 2018.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=X%C3%A3_T%C3%A2n_Ni%C3%AAn_T%C3%A2y&amp;diff=2975</id>
		<title>Xã Tân Niên Tây</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=X%C3%A3_T%C3%A2n_Ni%C3%AAn_T%C3%A2y&amp;diff=2975"/>
		<updated>2026-04-29T15:21:41Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Là quận lỵ của quận Hòa Tân từ năm 1965 đến 1975. Thuộc huyện Gò Công Đông sau năm 1975.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Là quận lỵ của quận Hòa Tân từ năm 1965 đến 1975. Thuộc huyện Gò Công Đông sau năm 1975.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=X%C3%A3_V%C4%A9nh_B%C3%ACnh&amp;diff=2974</id>
		<title>Xã Vĩnh Bình</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=X%C3%A3_V%C4%A9nh_B%C3%ACnh&amp;diff=2974"/>
		<updated>2026-04-29T15:21:28Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Là quận lỵ của quận Hòa Đồng từ ngày 31/12/1963. Ngày nay là thị trấn Vĩnh Bình, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang (cũ).”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Là quận lỵ của quận Hòa Đồng từ ngày 31/12/1963. Ngày nay là thị trấn Vĩnh Bình, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang (cũ).&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=X%C3%A3_B%C3%ACnh_Lu%C3%B4ng_%C4%90%C3%B4ng&amp;diff=2973</id>
		<title>Xã Bình Luông Đông</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=X%C3%A3_B%C3%ACnh_Lu%C3%B4ng_%C4%90%C3%B4ng&amp;diff=2973"/>
		<updated>2026-04-29T15:21:16Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Là quận lỵ của quận Hòa Bình từ năm 1965 đến 1975. Thuộc huyện Gò Công Tây sau năm 1975.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Là quận lỵ của quận Hòa Bình từ năm 1965 đến 1975. Thuộc huyện Gò Công Tây sau năm 1975.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BB%95ng_H%C3%B2a_%C4%90%E1%BB%93ng_Trung&amp;diff=2972</id>
		<title>Tổng Hòa Đồng Trung</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BB%95ng_H%C3%B2a_%C4%90%E1%BB%93ng_Trung&amp;diff=2972"/>
		<updated>2026-04-29T15:20:55Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Tổng được bổ sung sau khi tái lập tỉnh Gò Công (1924), nằm giữa Hòa Đồng Thượng và Hòa Đồng Hạ. Năm 1924, tỉnh Gò Công có 5 tổng (thêm Hòa Đồng Trung so với trước). Tổng này có 5 làng: Bình Phú Đông, Bình Phú Tây, Bình Phục Nhì, Đồng Sơn, Thạnh Nhựt (theo ghi chép năm 1910 của tổng Hòa Đồng Thượng – sau tách ra).”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Tổng được bổ sung sau khi tái lập tỉnh Gò Công (1924), nằm giữa Hòa Đồng Thượng và Hòa Đồng Hạ. Năm 1924, tỉnh Gò Công có 5 tổng (thêm Hòa Đồng Trung so với trước). Tổng này có 5 làng: Bình Phú Đông, Bình Phú Tây, Bình Phục Nhì, Đồng Sơn, Thạnh Nhựt (theo ghi chép năm 1910 của tổng Hòa Đồng Thượng – sau tách ra).&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BB%95ng_H%C3%B2a_L%E1%BA%A1c_Th%C6%B0%E1%BB%A3ng&amp;diff=2971</id>
		<title>Tổng Hòa Lạc Thượng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BB%95ng_H%C3%B2a_L%E1%BA%A1c_Th%C6%B0%E1%BB%A3ng&amp;diff=2971"/>
		<updated>2026-04-29T15:20:45Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Một trong bốn tổng nguyên thủy của hạt Gò Công. Năm 1910 gồm 7 làng: Bình Thạnh, Bình Thạnh Đông, Bình Xuân, Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, Tân Niên Trung, Tân Phước. Năm 1913, ba làng Bình Thạnh Tây, Mỹ Lợi, Mỹ Xuân nhập vào làng Bình Thạnh Đông.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Một trong bốn tổng nguyên thủy của hạt Gò Công. Năm 1910 gồm 7 làng: Bình Thạnh, Bình Thạnh Đông, Bình Xuân, Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, Tân Niên Trung, Tân Phước. Năm 1913, ba làng Bình Thạnh Tây, Mỹ Lợi, Mỹ Xuân nhập vào làng Bình Thạnh Đông.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BB%95ng_H%C3%B2a_L%E1%BA%A1c_H%E1%BA%A1&amp;diff=2970</id>
		<title>Tổng Hòa Lạc Hạ</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=T%E1%BB%95ng_H%C3%B2a_L%E1%BA%A1c_H%E1%BA%A1&amp;diff=2970"/>
		<updated>2026-04-29T15:20:35Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Một trong bốn tổng nguyên thủy của hạt Gò Công thời Pháp thuộc (từ 1867). Năm 1882, tổng có 13 làng: Thuận Tắc, Thuận Ngãi, Hòa Nghị, Tân Duân Đông, Tân Duân Trung, Dương Phước, Dương Hòa, Tăng Hòa, Tân Thành, Bình An, Bình Điền, An Điền, Kiểng Phước. Năm 1913, hai làng Thuận Tắc và Thuận Ngãi nhập lại thành làng Thành Phố cũng thuộc tổng này – nơi đặt tỉnh lỵ Gò Công.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Một trong bốn tổng nguyên thủy của hạt Gò Công thời Pháp thuộc (từ 1867). Năm 1882, tổng có 13 làng: Thuận Tắc, Thuận Ngãi, Hòa Nghị, Tân Duân Đông, Tân Duân Trung, Dương Phước, Dương Hòa, Tăng Hòa, Tân Thành, Bình An, Bình Điền, An Điền, Kiểng Phước. Năm 1913, hai làng Thuận Tắc và Thuận Ngãi nhập lại thành làng Thành Phố cũng thuộc tổng này – nơi đặt tỉnh lỵ Gò Công.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Qu%E1%BA%ADn_H%C3%B2a_%C4%90%E1%BB%93ng&amp;diff=2969</id>
		<title>Quận Hòa Đồng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Qu%E1%BA%ADn_H%C3%B2a_%C4%90%E1%BB%93ng&amp;diff=2969"/>
		<updated>2026-04-29T15:20:08Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Được thành lập năm 1955 cùng với quận Châu Thành. Quận lỵ ban đầu tại xã Đồng Sơn, sau chuyển về xã Vĩnh Bình (ngày 31/12/1963). Gồm 3 tổng: Hòa Đồng Hạ, Hòa Đồng Trung và Hòa Đồng Thượng. Ngày 6 tháng 4 năm 1965, quận Hòa Đồng bị chia thành 2 quận: Hòa Đồng (quận lỵ tại Vĩnh Bình, 8 xã) và Hòa Bình (quận lỵ tại Bình Luông Đông, 5 xã).”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Được thành lập năm 1955 cùng với quận Châu Thành. Quận lỵ ban đầu tại xã Đồng Sơn, sau chuyển về xã Vĩnh Bình (ngày 31/12/1963). Gồm 3 tổng: Hòa Đồng Hạ, Hòa Đồng Trung và Hòa Đồng Thượng. Ngày 6 tháng 4 năm 1965, quận Hòa Đồng bị chia thành 2 quận: Hòa Đồng (quận lỵ tại Vĩnh Bình, 8 xã) và Hòa Bình (quận lỵ tại Bình Luông Đông, 5 xã).&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Qu%E1%BA%ADn_H%C3%B2a_T%C3%A2n&amp;diff=2968</id>
		<title>Quận Hòa Tân</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Qu%E1%BA%ADn_H%C3%B2a_T%C3%A2n&amp;diff=2968"/>
		<updated>2026-04-29T15:19:59Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Thành lập ngày 6 tháng 4 năm 1965, tách từ quận Châu Thành. Quận lỵ đặt tại xã Tân Niên Tây. Quận có 9 xã (về sau là 10 xã): Bình Thạnh Đông, Bình Xuân, Gia Thuận, Kiểng Phước, Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, Tân Niên Trung, Tân Phước, Thành Công, Vàm Láng. Tồn tại đến năm 1975.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Thành lập ngày 6 tháng 4 năm 1965, tách từ quận Châu Thành. Quận lỵ đặt tại xã Tân Niên Tây. Quận có 9 xã (về sau là 10 xã): Bình Thạnh Đông, Bình Xuân, Gia Thuận, Kiểng Phước, Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, Tân Niên Trung, Tân Phước, Thành Công, Vàm Láng. Tồn tại đến năm 1975.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Qu%E1%BA%ADn_H%C3%B2a_L%E1%BA%A1c&amp;diff=2967</id>
		<title>Quận Hòa Lạc</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Qu%E1%BA%ADn_H%C3%B2a_L%E1%BA%A1c&amp;diff=2967"/>
		<updated>2026-04-29T15:19:50Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Thành lập ngày 6 tháng 4 năm 1965, tách từ quận Châu Thành. Quận lỵ đặt tại xã Tăng Hòa. Quận gồm 9 xã. Tỉnh lỵ Gò Công (xã Long Thuận) thuộc về quận Hòa Lạc sau năm 1965. Quận Hòa Lạc tồn tại đến năm 1975.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Thành lập ngày 6 tháng 4 năm 1965, tách từ quận Châu Thành. Quận lỵ đặt tại xã Tăng Hòa. Quận gồm 9 xã. Tỉnh lỵ Gò Công (xã Long Thuận) thuộc về quận Hòa Lạc sau năm 1965. Quận Hòa Lạc tồn tại đến năm 1975.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Qu%E1%BA%ADn_H%C3%B2a_B%C3%ACnh&amp;diff=2966</id>
		<title>Quận Hòa Bình</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Qu%E1%BA%ADn_H%C3%B2a_B%C3%ACnh&amp;diff=2966"/>
		<updated>2026-04-29T15:19:34Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Thành lập ngày 6 tháng 4 năm 1965, được tách ra từ quận Hòa Đồng cũ. Quận lỵ đặt tại xã Bình Luông Đông. Quận Hòa Bình có 5 xã và tồn tại cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Thành lập ngày 6 tháng 4 năm 1965, được tách ra từ quận Hòa Đồng cũ. Quận lỵ đặt tại xã Bình Luông Đông. Quận Hòa Bình có 5 xã và tồn tại cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Qu%E1%BA%ADn_Ch%C3%A2u_Th%C3%A0nh&amp;diff=2965</id>
		<title>Quận Châu Thành</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Qu%E1%BA%ADn_Ch%C3%A2u_Th%C3%A0nh&amp;diff=2965"/>
		<updated>2026-04-29T15:19:02Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Trang mới: “Thành lập ngày 2 tháng 4 năm 1955, cùng với quận Hòa Đồng, khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái thiết tỉnh Gò Công. Quận lỵ đặt tại làng Thành Phố (nay thuộc phường Long Thuận, thành phố Gò Công). Quận Châu Thành gồm 2 tổng: Hòa Lạc Thượng (7 làng) và Hòa Lạc Hạ (10 làng). Đến ngày 6 tháng 4 năm 1965, quận Châu Thành bị chia thành hai quận mới là quận Hòa Tân và quận Hò…”&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;Thành lập ngày 2 tháng 4 năm 1955, cùng với quận Hòa Đồng, khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái thiết tỉnh Gò Công. Quận lỵ đặt tại làng Thành Phố (nay thuộc phường Long Thuận, thành phố Gò Công). Quận Châu Thành gồm 2 tổng: Hòa Lạc Thượng (7 làng) và Hòa Lạc Hạ (10 làng). Đến ngày 6 tháng 4 năm 1965, quận Châu Thành bị chia thành hai quận mới là quận Hòa Tân và quận Hòa Lạc. Tên &amp;quot;Châu Thành&amp;quot; (chef-lieu) là tên gọi chung cho quận đặt tại tỉnh lỵ, dịch từ tiếng Pháp.&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Gi%E1%BA%A3n_B%C3%A1_Hu%E1%BB%B3nh&amp;diff=2964</id>
		<title>Giản Bá Huỳnh</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Gi%E1%BA%A3n_B%C3%A1_Hu%E1%BB%B3nh&amp;diff=2964"/>
		<updated>2026-04-27T17:53:03Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: Restore content from revision 2891 after storage repair&lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;VOV có đăng bài Dinh tỉnh trưởng Gò Công (Đồng Tháp) “biến mất” trách nhiệm thuộc về ai?  cho biết việc phê duyệt thuộc về UBND thị xã Gò Công và cá nhân ông Giản Bá Huỳnh (nguyên Chủ tịch UBND thị xã Gò Công) ký phê duyệt.&amp;lt;ref&amp;gt;https://vov.vn/xa-hoi/dinh-tinh-truong-go-cong-dong-thap-bien-mat-trach-nhiem-thuoc-ve-ai-post1242866.vov&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kết luận thanh tra xác định rõ rằng ông Giản Bá Huỳnh — nguyên Chủ tịch UBND thị xã Thị xã Gò Công (tỉnh Tiền Giang) — đã có các thiếu sót, vi phạm liên quan đến quản lý dự án và thực hiện thủ tục đầu tư xây dựng tại địa phương. Cụ thể:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Báo cáo cho biết rằng UBND thị xã Gò Công đã phê duyệt dự án tu bổ di tích “[[Dinh tỉnh trưởng]] Gò Công” khi chủ đầu tư chưa thực hiện đầy đủ nội dung về môi trường và phòng cháy chữa cháy theo kiến nghị của cơ quan chức năng. &amp;lt;ref&amp;gt;https://znews.vn/dinh-tinh-truong-go-cong-bien-mat-trach-nhiem-thuoc-ve-ai-post1599369.html&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* Ông Giản Bá Huỳnh được nêu tên là người “ký phê duyệt thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở” và “ký phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu” cho dự án này mà chưa thực hiện đúng thẩm quyền, chưa thực hiện đầy đủ thủ tục đấu thầu theo quy định&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Dinh_t%E1%BB%89nh_tr%C6%B0%E1%BB%9Fng&amp;diff=2963</id>
		<title>Dinh tỉnh trưởng</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Dinh_t%E1%BB%89nh_tr%C6%B0%E1%BB%9Fng&amp;diff=2963"/>
		<updated>2026-04-16T14:46:41Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;[[Tập tin:Image-74.jpg|nhỏ|Dinh Chánh Tham Biện tỉnh Gò Công]]&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Image-44.jpg|nhỏ|Ba cuộc Hội-chợ vào năm 1938, 1940, 1942 được lập trong khuôn viên rộng rãi này. Hiện thời trong vòng thành, dinh tỉnh-trưởng được phân lô theo mé đường để cất thêm những cơ-sở cần-thiết do sự phát-triển của hành-chánh như Hội-trường, Ty Thuế-vụ, Kho vật-liệu v.v… Tỉnh cũng đã xây cất một cư-xá sát bên sân vận động.]]&lt;br /&gt;
Năm 1867, Pháp thâu trọn Nam Kỳ, Pháp đổi sáu tỉnh thành 27 vùng Tham biện. Huyện Tân Hoà của cựu trào được đổi thành Tham Biện Gò Công (Inspection de Gò Công) và do một viên sĩ quan Hải quân cấp bực Trung uý làm Chánh Tham Biện. Sau Tham biện Gò Công đổi thành Hạt Gò Công (Arrondissement de Gò Công) và đến ngày 20 – 12 – 1899 bằng một nghị định của Soái phủ Sài Gòn bỏ các Hạt và thành lập tỉnh. Tỉnh Gò Công (Province de Gò Công) chính thức lập kể từ ngày nầy và là 1 trong 21 tỉnh Nam Kỳ kể từ đó. Trở lại dù sau nầy viên chức đứng đầu Tỉnh Gò Công là Tỉnh Trưởng (Chef de Province) nhưng dân Gò Công quen gọi là Chánh Tham Biện (Administrateur) và chỗ ở của viên quan nầy gọi là Dinh Chánh Tham Biện hay Dinh Ông Chánh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dinh được Tây cất kiên cố bằng gạch ngói chở từ chính quốc sang. Đây là dinh thự đồ sộ đầu tiên ở Nam Kỳ (trừ Sài Gòn) bắt đầu xây năm 1885 và xong vài năm sau. Sở dĩ lấy mốc 1885 làm năm xây cất dinh thự nầy là do tôi, người viết những dòng nầy, năm 1985 có dịch cho UB Huyện Gò Công Đông một văn bản do Công Hoà Pháp gởi cho Nhà Chức trách Tỉnh Gò Công cũ, yêu cầu ngưng sử dụng dinh thự dành cho viên Chủ Tỉnh vì dinh thự nầy khi xây cất Sở Tạo Tác thuộc Bộ Hải Quân Pháp dự trù sử dụng 1 trăm năm. Đến năm 1985 là đúng hạn nên báo cho Nhà Chức trách Gò Công đừng sử dụng, nguy hiểm. Gò Công có nhiều dinh thự và ngôi nhà Tây cất nhưng duy nhất chỉ có Dinh Chánh Tham Biện nầy Tây báo cho ta mà thôi. Lúc đó tôi dịch vì tôi là Giáo viên Tổ trưởng Ngoại ngữ của trường Trung học Trương Định, Ủy Ban nhờ trường xem coi văn thư chữ Pháp do Tỉnh chuyển xuống nói gì, Trường giao cho tôi và tôi dịch, xong giao cho Chánh văn phòng Ùy Ban lúc đó là ông Nguyễn Văn Rí. Và Ủy Ban cho ngưng sử dụng dinh thự nầy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đi các tỉnh nào thuộc Nam Kỳ cũ ta đều thấy hình dáng kiểu dinh thự nầy. Nhưng Dinh Chánh Tham Biệm Gò Công là to và đẹp hơn hết. Hiện Dinh xưa vẫn còn lại, nét phai tàn lộ rõ vẻ ngoài. Chứng tích còn đó nhưng thời gian sẽ đưa Dinh vào dĩ vãng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thêm nữa khung viên của Dinh Chánh Tham Biện thật rộng lớn. Đông giáp Sân Vận Động Gò Công và Toà án. Nam giáp đường Thái Lập Thành nay là đường Nguyễn Văn Côn. Tây giáp đường Trần Hưng Đạo và Bắc giáp đường Lộ Dương nay là đường Nguyễn Trọng Dân&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong khung viên toà nhà Chánh tham biện xưa dọc theo lộ phía Tây (đường Trần Hưng Đạo) có Toà Hành Chánh, nơi làm việc của Chánh Tham Biện và các ban ngành. Tên của toà nầy cho tới năm 1945 kêu bằng tiếng Tây như từ 1868 gọi là Inspection de Go Cong nhưng người dân quen với cách cai trị của Triều đình cũ gọi là Toà Bố.&amp;lt;ref&amp;gt;Phan Thanh Sắc&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Sai phạm trong dự án trùng tu — dẫn tới công trình bị ảnh hưởng nghiêm trọng ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Kế hoạch trùng tu.jpg|nhỏ|Kế hoạch trùng tu]]&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Hình ảnh khi phá vỡ từ Dinh tỉnh trưởng Gò Công còn lại.webp|nhỏ|Hình ảnh khi phá vỡ từ Dinh tỉnh trưởng Gò Công còn lại]]&lt;br /&gt;
Khi dự án “Nâng cấp di tích kiến trúc nghệ thuật Dinh Tỉnh Trưởng Gò Công” được triển khai (khởi công từ tháng 2/2023) thì phần lớn kiến trúc gốc đã bị tháo dỡ, chỉ còn lại phần nhỏ mặt tiền — gây bức xúc người dân.&amp;lt;ref&amp;gt;https://tuoitre.vn/de-xuat-thanh-tra-toan-dien-du-an-nang-cap-di-tich-kien-truc-nghe-thuat-dinh-tinh-go-cong-20251101110450992.htm&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các quy trình: phê duyệt tên dự án, thẩm định thiết kế, lựa chọn nhà thầu… được ghi nhận là có nhiều sai sót. VOV có đăng bài Dinh tỉnh trưởng Gò Công (Đồng Tháp) “biến mất” trách nhiệm thuộc về ai? &amp;lt;ref&amp;gt;https://vov.vn/xa-hoi/dinh-tinh-truong-go-cong-dong-thap-bien-mat-trach-nhiem-thuoc-ve-ai-post1242866.vov&amp;lt;/ref&amp;gt; cho biết việc phê duyệt thuộc về UBND thị xã Gò Công và cá nhân ông [[Giản Bá Huỳnh]] (nguyên Chủ tịch UBND thị xã Gò Công) ký phê duyệt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Chú thích ==&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Địa lý]]&lt;br /&gt;
&amp;lt;references /&amp;gt;&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
	<entry>
		<id>https://wiki.gocong.org/index.php?title=Gi%E1%BA%A3n_B%C3%A1_Hu%E1%BB%B3nh&amp;diff=2962</id>
		<title>Giản Bá Huỳnh</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wiki.gocong.org/index.php?title=Gi%E1%BA%A3n_B%C3%A1_Hu%E1%BB%B3nh&amp;diff=2962"/>
		<updated>2026-04-15T21:08:10Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
	</entry>
</feed>